10 điều cần biết để tránh bị trừ điểm oan môn Toán.

Đây là lưu ý tưởng "vặt vãnh" nhưng sẽ giúp học sinh hạn chế tối đa những điểm trừ đáng tiếc khi bạn thi môn toán trong ki thi tuyển sinh sắp tới

Mẹo vặt vật lý

Mẹo vặt và kinh nghiệm làm bài vật lý

Luận tiếng anh

Những bài luận thông dụng

So sánh hai tác phẩm

Đề văn hiện nay có xu hướng nghị luận văn học kiểu so sánh hai tác phẩm, bài viết này sẽ giúp ta hiểu hơn về nó.

Tác hại của việc sử dụng điện thoại trong đêm

clip của VTV nói về tác hại của việc sử dụng điện thoại trong đêm.

Total Pageviews

Showing posts with label Văn. Show all posts
Showing posts with label Văn. Show all posts

Wednesday, July 6, 2016

Đề đọc hiểu đề1

1/ Đọc đoạn sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 4:
          Yêu Tổ quốc từ những giọt mồ hôi tảo tần. Mồ hôi rơi trên những cánh đồng cho lúa thêm hạt. Mồ hôi rơi trên những công trường cho những ngôi nhà thành hình, thành khối. Mồ hôi rơi trên những con đường nơi rẻo cao Tổ quốc của những thầy cô trong mùa nắng để nuôi ước mơ cho các em thơ. Mồ hôi rơi trên thao trường đầy nắng gió của những người lính để giữ mãi yên bình và màu xanh cho Tổ quốc… 
                                                       (Nguồn http://vietbao.vn ngày 9-5-2014)
Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ trong văn bản trên?
Câu 2. Biện pháp tu từ nào được sử dụng nhiều nhất trong văn bản trên? Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó?
Câu 3. Những từ ngữ: cánh đồng, công trường gợi nhớ đến đối tượng nào trong cuộc sống?
Câu 4. Đặt tiêu đề cho văn bản trên.
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:                            “...Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
                             Phải biết gắn bó và san sẻ
                            Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
                            Làm nên Đất Nước muôn đời…”.
                                         (Trích đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm
                                           SGK Ngữ văn lớp 12 tập 1 trang 120 )
Câu 5. Nêu nội dung của đoạn thơ?
Câu 6. Tại sao từ “Đất Nước” được viết hoa?
Câu 7. Nêu biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ?
Câu 8. Viết đoạn văn ngắn nêu cảm nhận của em về trách nhiệm của mình với quê hương, đất nước trong xã hội ngày nay?

ĐÁP ÁN:
Câu 1. Phong cách ngôn ngữ trong văn bản trên: phong cách ngôn ngữ báo chí.
Câu 2. 
-     Biện pháp tu từ được sử dụng nhiều nhất trong văn bản trên là điệp (lặp) cấu trúc câu (Mồ hôi rơi).
-     Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó là nhấn mạnh những vất vả nhọc nhằn và sự hi sinh thầm lặng của người dân lao động. Qua đó, bộc lộ sự trân trọng, tin yêu với những con người lao động và tình yêu Tổ quốc của nhà thơ.
Câu 3. Những từ ngữ: cánh đồng, công trường gợi nhớ đến người nông dân, công nhân trong cuộc sống.
Câu 4. Đặt nhan đề: Yêu Tổ quốc, Hoặc Tổ quốc của tôi.
Câu 5. Nội dung của đoạn thơ: Lời nhắn nhủ về trách nhiệm của mỗi người với Đất Nước.
Câu 6. Từ “Đất Nước ” được viết hoa - coi "Đất Nước" là một sinh thể, thể hiện sự tôn trọng, ngợi ca, thành kính, thiêng liêng khi cảm nhận về Đất Nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.
Câu 7. Điệp ngữ “phải biết’’, sử dụng nhiều từ chỉ mối quan hệ gắn bó như: gắn bó, san sẻ, hóa thân..
Câu 8. Cần nêu cảm nhận của riêng mình về trách nhiệm của mình với quê hương, đất nước trong xã hội ngày nay, cần khẳng định trách nhiệm hàng đầu là học tập, rèn luyện để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhau những lập luận phải chặt chẽ, thuyết phục.

Sunday, July 3, 2016

Ngữ văn 8: Câu nói của M. Go-rơ-ki “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống” gợi cho em những suy nghĩ gì?

Câu nói của M. Go-rơ-ki “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống” gợi cho em những suy nghĩ gì?

Sách là ông thầy, là người bạn vô cùng thân thiết đối với những người hiếu học xưa nay. Biết yêu sách và ham mê đọc sách là một đức tính quý báu cần được rèn luyện và sớm hình thành từ tuổi ấu thơ. Khẳng định giá trị và lợi ích to lớn của sách, văn hào Go-rơ-ki có nói:
"Phải yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống".
Sách là một trong nhũng thành tựu văn minh kì diệu của con người. Từ những quyển sách được viết trên hàng trăm tấm da cừu, được khắc trên hàng nghìn thẻ tre, được in bằng mộc bản đến những cuốn sách in bằng máy in hiện đại như ngày nay, ta dễ dàng nhận thấy sự tiến bộ của loài người qua mấy nghìn năm lịch sử. Tác giả bài "Phương pháp đọc nhanh" (Lịch sử văn hóa tổng hợp 1987-1990) cho biết: "Tính đến nay, trong 500 năm lịch sử của mình, ngành in thế giới đã xuất bản hơn 300 triệu đầu sách, hàng năm cho ra đời 600 triệu trang in". Những con số ấy làm cho ta vô cùng sửng sốt!
Sách là sản phẩm tinh thần của những tài năng. Những nhà văn, những sử gia, những nhà tư tưởng vĩ đại mới có thể sáng tạo nên những tác phám vĩ đại. Kinh Thánh, Kinh Ko-ran, Kinh Phật, cuốn sử thi Ra-ma-ya-na, sách của Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử,...trải qua mấy nghìn năm, đến nay vẫn còn chiếm lĩnh tâm hồn hàng triệu con người trên trái đất. Những tác phẩm như "Sử kí Tư Mã Thiên", "Chiến tranh và Hòa bình", những bộ tiểu thuyết chương hồi như "Tam quốc chí", "Đông Chu liệt quốc",... những công trình của các nhà văn hóa, khoa học được giải thưởng Nô-ben mãi mãi chiếu sáng nền văn minh nhân loại. Hàng ngàn quyển sách Hán - Nôm được tổ tiên ông cha ta để lại là những chứng tích hùng hồn của nền văn hiến Đại Việt rực rỡ, lâu đời. Mọi thứ vật chất có thể mục nát theo thời gian, nhưng tên tuổi và các công trình của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, của Niu-tơn, Anh-xtanh,... sẽ đời đời bất tử.
Sông sâu, nước lớn là do tự nguồn. Sách cũng vậy. Sách là kết tinh trí tuệ của con người. Là nguồn kiến thức bao la và mênh mông. Sách nâng cao kiến thức, mở rộng tầm mắt cho độc giả, dạy ta biết yêu, biết ghét, biết mơ ước,... Còn có loại sách để đọc giải trí, nuôi dưỡng trí tưởng tượng, đem lại niềm vui. Sách là tài liệu để học tập, để tu dưỡng. Cho nên "phải biết yêu sách, biết quý sách" vì "nó là nguồn kiến thức". Người xưa đã nói: "Mỗi quyển sách là một hũ vàng". Lê Quý Đôn, nhà bác học của nước ta trong thế kỉ XVIII là một con người rất thông minh, suốt đời “mắt không rời sách, gối đầu lên sách". Con người có hiếu học mới yêu sách đến thế!
Ở đời, ai cũng muốn giàu có, sang trọng. Ai cũng muốn học rộng, biết nhiều. Nghèo khổ thì bị người ta coi thường. Dốt nát càng bị thiên hạ coi khinh. Tại sao trong xã hội phong kiến Việt Nam, sĩ lại đứng đầu các đẳng cấp: “Sĩ, nông, công, thương"? Nhân tài là nguyên khí quốc gia. Sống trong thời đại tin học, ta mới thấy rõ tri thức, trí tuệ, tài năng là vô giá. Chúng ta càng thêm thấm thìa ý kiến của Go-rơ-ki: "Chỉ có kiến thức mới là con đường sống". Không thể sống trong đói rét, tăm tối, dốt nát. Bởi lẽ "người không có trí ít hiểu biết, chỉ làm đầy tớ cho người ta sai khiến mà thôi" (Mạnh Tử). Muốn biết thêm một, hai ngoại ngữ làm công cụ, muốn có một trình độ khoa học hiện đại, tiên tiến thì phải được đào tạo chuyên sâu, phải dày công học tập, phải biết tự học, tự đọc sách. Và bao giờ cũng vậy: "Rễ của học tập thì đắng; quả của học tập thì ngọt".
"Chỉ có kiến thức mới là con đường sống". Sống trong lao động sáng tạo. Sống để làm chủ thiết bị máy móc. Sống trong ánh sáng văn minh của khoa học kĩ thuật. Con đường sống mà Go-rơ-ki nói đến là con đường sáng tạo, có đời sống vật chất sang trọng, có đời sống tinh thần phong phú, tươi đẹp để làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên.
Gần 700 năm về trước, trong "Quốc âm thi tập", Nguyễn Trãi có viết:
"Nên thợ, nên thầy vì có học,
No ăn, no mặc bởi hay làm".
(Bảo kính cảnh giởi - bài 46)
Yêu sách nhưng không phải là con mọt sách. Đọc sách nhưng không được nô lệ vào sách, mà phải vừa thực sự cầu thị, vừa ý thức được: "Học cho rộng, hỏi cho kĩ, suy nghĩ cho cẩn thận, phân biệt cho sáng suốt, làm việc cho hết lòng" (Trung dung).
Người yêu sách là người biết coi trọng tri thức, rất hiếu học, lúc nào cũng muốn vươn lên thành kẻ sĩ (người trí thức) trong xã hội.
Trên con đường hội nhập, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tuổi trẻ Việt Nam không chỉ học ở trường, học thầy, học bạn, học trong thực tế cuộc sống, mà còn phải biết đọc sách, sách khoa học, sách kĩ thuật, sách ngoại ngữ, sách văn học,... biết tự học để vũ trang cho mình những kiến thức hiện đại, đem tài năng phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng đất nước phồn vinh.
Hãy phấn đấu cho mục tiêu mỗi học sinh có một ngăn sách, mỗi gia đình có một tủ sách, đúng như úc Trai đã nói: "Gia hữu cầm thư nhi bối lạc" (Trong nhà có đàn sách thì con cái vui). Đọc sách phải trở thành niềm vui sáng tạo. Tuổi trẻ chúng ta, ai cũng biết học trong sách, dành mỗi ngày một hai giờ đọc sách.
Hơn bao giờ hết, chúng ta càng thấy rõ câu nói của Go-rơ-ki là một lời khuyên đẹp: "Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống".
Bài làm 2
Đất nước ta đang bước vào thời đổi mới: công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Tuổi trẻ đã và đang tiến quân vào mặt trận khoa học kĩ thuật. Hơn bao giờ hết, mỗi chúng ta càng thấy rõ tầm quan trọng của việc đọc sách và học hành qua sách. Câu nói của M. Go-rơ-ki đã chỉ cho chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của vấn đề này: “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống”.
Thật vậy, sách đã đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển nền văn minh nhân loại. Mọi kiến thức về khoa học kĩ thuật, về văn hóa văn học của loài người đã được sáng tạo ra trong nhiều thiên niên kỉ, đã được lưu giữ lại qua hàng triệu triệu trang sách.
Những trang sử của các dân tộc từ xa xưa đến ngày nay đều được ghi chép lại trên những trang sách. Những phát kiến về địa lí, về thiên văn, về hải dương học, những kiến thức về thực vật, về động vật, những phát minh về máy móc, về điện lực, về kĩ thuật như công nghệ thông tin, y học hiện đại... đều được ghi chép lại, in ấn lại trên sách.
Sách có thể là những tấm da bò, những thẻ tre, những mộc bản, những thạch bản. ..cho đến những trang sách, quyển sách in bằng kĩ thuật hiện đại nhiều màu trên các loại giấy tốt như hiện nay. Có những cuốn sách đồ sộ hàng ngàn trang, hàng triệu triệu chữ như các cuốn Bách khoa toàn thư, các cuốn Từ điển ngôn ngữ, Từ điển chuyên ngành, cho đến các cuốn sử thi, Kinh thánh, các tập truyện phiêu lưu, truyền kì, các tập thi ca,... Đó là trí tuệ, tri thức của hàng ngàn, hàng vạn học giả, nhà triết học, nhà văn, nhà thơ, nhà khoa học trong nhiều thời đại để lại cho nhân loại hôm nay và mãi mãi sau này. Đúng sách là nguồn kiến thức. Và mỗi chúng ta phải biết yêu sách, phải biết trân trọng giữ gìn sách. Phải xem sách là người thầy, người bạn khai sáng cho mỗi chúng ta để mỗi chúng ta tiến bước trên con đường văn minh hiện đại.
Xã hội ngày một đổi mới. Đất nước ngày một đổi mới. Không thể sống trong tối tăm u mê. Không thể khoanh tay ngồi nhìn thiên hạ. Không thể quẩn quanh trong bốn bức tường, làm đầy tớ cho thiên hạ.
Thời đại mới cần có những con người mới; những con người có văn hoá cao, có kiến thức khoa học tiên tiến. Hơn bao giờ hết, ta càng thấy rõ lời khuycn của M. Go-rơ-ki: "'chỉ có kiến thức mới là con  đường sống”. Sống trong văn minh, sống trong khoa học kĩ thuật hiện đại, có thể làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình. Con đường đi lên của tuổi trẻ là con đường học vấn. Có thể học ở trường, học ở thầy, ở bạn, học ở trong thực tế cuộc sống. Nhưng không thể thiếu việc học trong sách vì sách là nguồn kiến thức, vì đọc sách thì ta mới có kiến thức để bước lên con đường sống, con đường văn hoá, con đường khoa học kĩ thuật. Ta càng thấm thìa lời dạy của Lê nin: "Không có sách thì không có tri thức; Không có tri thức thì không có chủ nghĩa cộng sản”.
Tóm lại, sách là giá trị tinh thần vô giá của nhân loại trên con đường đi tới văn minh. Sách có tác dụng vô cùng to lớn trong việc bồi đắp trí tuệ, tâm hồn của mọi người. Sách phát triển tài năng cho những con người hiếu học, thích khám phá và hiểu biết. Đọc sách và nhờ sách để tự khám phá chiều sâu tâm hồn mình, tự hoàn thiện nhân cách mình. Đọc sách còn là một phương pháp tự học rất thiết thực và hữu ích. Câu nói của M. Go-rơ-ki là một lời khuyên bổ ích đối với mỗi chúng ta. Hãy biết yêu sách, quý sách. Hãy coi sách là người thầy, người bạn để phấn đấu vươn lên trở thành một con người có học vấn cao, có kĩ thuật khoa học tiên tiến, biết đem tài năng góp phần phát triển đất nước, làm cho Việt Nam sớm trở thành một quốc gia dân giàu, nước mạnh, xã hội công bàng, dân chủ, văn minh.
Đãng Thảo Linh - lớp 8 THCS Thành phố Hải Phòng


Friday, July 1, 2016

Phân tích đoạn trích Trao duyên_bài 1

Nhưng bên cạnh đó, ta còn thấy một nàng Kiều thiết tha với tình yêu, thiết tha với cuộc sống riêng tư. Điều đó được thể hiện qua nỗi đau đớn của nàng vì tình yêu tan vỡ. Chiều sâu và sự chân thành trong tình cảm của nàng Kiều được bộc lộ sâu sắc khi nàng đối diện với kỉ vật, kỉ niệm tình yêu.
Mối tình Kim- Kiều là mối tình đẹp vượt lễ giáo phong kiến. Mối tình của đôi tài tử- giai nhân ấy đã có những kỉ niệm trong sáng, đẹp đẽ, sâu nặng thiết tha. Kỉ niệm chính là hiện thân của tình yêu. Kỉ vật gắn với kỉ niệm, là một dạng vật chất hoá của kỉ niệm. Cho nên, rải rác suốt trong đoạn Trao duyên, Thuý Kiều đã nhắc tới, đã sống và đau đớn với những kỉ vật và kỉ niệm ấy.
Trước hết, kỉ niệm được Kiều nhắc đến một cách tế nhị khi nói với Thuý vân về mối tình của mình :
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Ngôn ngữ khách quan, chữ “khi” lặp lại như dư âm của cái đã qua, lời lẽ có vẻ thanh thản. Nhưng cái thiết tha, cái chiều sâu của tình cảm lại nằm ở kỉ niệm “gặp chàng Kim”. Đó là kỉ niệm của phút giây gặp gỡ ban đầu mà “nghìn năm hồ dễ mấy ai quên”. Cả một vùng trong sáng của kí ức hiện về. Nhưng lúc này Kiều còn đủ lí trí để kìm nén, để không bị kỉ niệm cuốn vào tâm tưởng. Nhưng đến câu: “Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề” thì kỉ niệm của ngày trao quạt cho nhau để hẹn ước, đêm dưới trăng uống rượu nguyện thề thuỷ chung tự nó nói lên sự sâu nặng của một mối tình: trong sáng mà mãnh liệt, thiết tha.
Mối tình vàng đá ấy tưởng cầm nắm trong tay bỗng chốc bị xã hội dập vùi tan vỡ. Tình yêu vẫn tiếp tục hiện về với kỉ vật:
Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Khi trao kỉ vật cho Thuý Vân, nỗi mất mát hiện hữu quá rõ. cầm đến kỉ vật, kỉ niệm tình yêu sống dậy đối lập với hiện thực phũ phàng, Thuý Kiều không còn đủ lí trí để kìm nén được nữa, giọng nói của nàng run lên: “Duyên này thì giữ, vật này của chung”, nghe như có tiếng nấc nghẹn ngào trong đó. Hoài Thanh đã cảm thông nỗi đau đớn của nàng Kiều ở hai từ “của chung” – “Bao nhiêu đau đớn dồn vào hai tiếng đơn sơ ấy”. đau đớn vì duyên thì trao cho em mà tình yêu thì không trao được. Kỉ vật với Thuý Vân chỉ đơn giản là vật làm tin nhưng với Thuý Kiều nó lại là tình yêu.
Trao duyên cho em, con người đạo lí ở Thuý Kiều mách bảo cần phải trao kỉ vật. vả lại, khi tình yêu tan vỡ, giữ kỉ vật chỉ thêm đau. Nhưng Thuý Kiều không chỉ là con người của đạo lí mà còn là con người của tình riêng. Thuý Vân giữ kỉ vật trong khi chính Kiều mới là người giữ kỉ niệm của tình yêu. Cuộc chia lìa giữa kỉ niệm và kỉ vật là cuộc chia lìa giữa linh hồn và thể xác. Đau đớn dồn vào hai chữ “của chung” là vì như thế. Nguyễn Du như hoá thân để cảm thông, chia xẻ đến tận cùng nỗi đau với nhân vật của mình, từ đó cất lên tiếng nói nhân đạo sâu sắc, mới mẻ.
Càng lúc, nỗi đau đớn càng lớn, kỉ vật, kỉ niệm tình yêu cứ chập chờn:
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa
“Ngày xưa”, “phím đàn”, “mảnh hương nguyền”,… có một đôi lứa thiếu niên bên nhau, nàng đánh đàn cho chàng nghe trong khói hương trầm thơm ngát. Bao nhiêu thi vị của mối tình đầu giờ chỉ còn là vô vọng.
- Đốt lò hương ấy, so tơ phím này…
- Hồn còn mang nặng lời thề …
“Lò hương”, “phím đàn”, “lời thề” là những kỉ niệm sâu nặng, thiết tha đối lập với hiện thực phũ phàng, tương lai mù mịt khiến Thuý Kiều rơi vào trạng thái đau đớn tột độ.
Nguyễn Du thật tinh tế, sâu sắc khi biểu đạt nội tâm con người đối diện với kỉ vật, kỉ niệm tình yêu trong hoàn cảnh trao duyên. Thân phận đau khổ nhưng nhân cách sáng ngời. Nàng ứng xử theo văn hoá của thời trung đại nhưng không thôi nghĩ về thân phận và tình yêu riêng tư. điều đó khiến nàng Kiều “người” hơn, gần chúng ta hơn, sống động và chân thực hơn.


Em hãy giới thiệu về hoàn cảnh ra đời của tiểu thuyết Đôn Ki-hô- tê (Xéc-van-téc). Từ đó cho biết ý nghĩa của tác phẩm.

Đôn Ki-hô-tê là tác phẩm nổi tiếng của Xéc-van-téc và của nền văn học Tây Ban Nha. Ông viết tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê khi thời đại của lối sống hiệp sĩ đã qua rồi. Trong thời đại công nghiệp, không ai còn sống theo kiểu đó nữa. Tuy nhiên, trong xã hội lúc bấy giờ, không ít người nuối tiếc quá khứ một thời, cố bám víu lấy nó bằng cách xây dựng cho mình những ảo vọng, những lí tưởng phù du, xa rời thực tế. Họ say mê đọc những cuốn tiểu thuyết hiệp sĩ được bày bán nhan nhản trên hè phố khiến cho đầu óc ngày càng mê muội. Xéc-van-téc nhận thấy rõ căn bệnh xã hội này và tiểu thuyết Đôn Ki- hô-tê ra đời là một thông điệp của nhà văn trước hiện tượng đó.
Xéc-van-téc viết Đôn Ki-hô-tê không phải để ca ngợi tinh thần hiệp sĩ mà là để phê phán một tư tưởng đã quá lỗi thời. Ông sáng tác một tác phẩm theo đúng kiểu tiểu thuyết hiệp sĩ nhưng đọc lên ai cũng hiểu ông muốn nói gì. Ông xây dựng một nhân vật hiệp sĩ già nua (dấu hiệu của sự hết thời), đầu óc chứa đầy những ý tưởng tốt đẹp nhưng phi thực tế, do đó không sao thực hiện nổi bởi lực bất tòng tâm và hoàn cảnh xã hội cũng không còn như trước nữa. Những thất bại liên tiếp trong trạng thái u mê của nhân vật này chính là lời cảnh tỉnh đối với những người chỉ thích sống trong hoài niệm cùng những lí tưởng viển vông.

Ngữ văn lớp 8 Câu nói của M. Go-rơ-ki “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống” gợi cho em những suy nghĩ gì?

Câu nói của M. Go-rơ-ki “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống” gợi cho em những suy nghĩ gì?

Sách là ông thầy, là người bạn vô cùng thân thiết đối với những người hiếu học xưa nay. Biết yêu sách và ham mê đọc sách là một đức tính quý báu cần được rèn luyện và sớm hình thành từ tuổi ấu thơ. Khẳng định giá trị và lợi ích to lớn của sách, văn hào Go-rơ-ki có nói:
"Phải yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống".
Sách là một trong nhũng thành tựu văn minh kì diệu của con người. Từ những quyển sách được viết trên hàng trăm tấm da cừu, được khắc trên hàng nghìn thẻ tre, được in bằng mộc bản đến những cuốn sách in bằng máy in hiện đại như ngày nay, ta dễ dàng nhận thấy sự tiến bộ của loài người qua mấy nghìn năm lịch sử. Tác giả bài "Phương pháp đọc nhanh" (Lịch sử văn hóa tổng hợp 1987-1990) cho biết: "Tính đến nay, trong 500 năm lịch sử của mình, ngành in thế giới đã xuất bản hơn 300 triệu đầu sách, hàng năm cho ra đời 600 triệu trang in". Những con số ấy làm cho ta vô cùng sửng sốt!
Sách là sản phẩm tinh thần của những tài năng. Những nhà văn, những sử gia, những nhà tư tưởng vĩ đại mới có thể sáng tạo nên những tác phám vĩ đại. Kinh Thánh, Kinh Ko-ran, Kinh Phật, cuốn sử thi Ra-ma-ya-na, sách của Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử,...trải qua mấy nghìn năm, đến nay vẫn còn chiếm lĩnh tâm hồn hàng triệu con người trên trái đất. Những tác phẩm như "Sử kí Tư Mã Thiên", "Chiến tranh và Hòa bình", những bộ tiểu thuyết chương hồi như "Tam quốc chí", "Đông Chu liệt quốc",... những công trình của các nhà văn hóa, khoa học được giải thưởng Nô-ben mãi mãi chiếu sáng nền văn minh nhân loại. Hàng ngàn quyển sách Hán - Nôm được tổ tiên ông cha ta để lại là những chứng tích hùng hồn của nền văn hiến Đại Việt rực rỡ, lâu đời. Mọi thứ vật chất có thể mục nát theo thời gian, nhưng tên tuổi và các công trình của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, của Niu-tơn, Anh-xtanh,... sẽ đời đời bất tử.
Sông sâu, nước lớn là do tự nguồn. Sách cũng vậy. Sách là kết tinh trí tuệ của con người. Là nguồn kiến thức bao la và mênh mông. Sách nâng cao kiến thức, mở rộng tầm mắt cho độc giả, dạy ta biết yêu, biết ghét, biết mơ ước,... Còn có loại sách để đọc giải trí, nuôi dưỡng trí tưởng tượng, đem lại niềm vui. Sách là tài liệu để học tập, để tu dưỡng. Cho nên "phải biết yêu sách, biết quý sách" vì "nó là nguồn kiến thức". Người xưa đã nói: "Mỗi quyển sách là một hũ vàng". Lê Quý Đôn, nhà bác học của nước ta trong thế kỉ XVIII là một con người rất thông minh, suốt đời “mắt không rời sách, gối đầu lên sách". Con người có hiếu học mới yêu sách đến thế!
Ở đời, ai cũng muốn giàu có, sang trọng. Ai cũng muốn học rộng, biết nhiều. Nghèo khổ thì bị người ta coi thường. Dốt nát càng bị thiên hạ coi khinh. Tại sao trong xã hội phong kiến Việt Nam, sĩ lại đứng đầu các đẳng cấp: “Sĩ, nông, công, thương"? Nhân tài là nguyên khí quốc gia. Sống trong thời đại tin học, ta mới thấy rõ tri thức, trí tuệ, tài năng là vô giá. Chúng ta càng thêm thấm thìa ý kiến của Go-rơ-ki: "Chỉ có kiến thức mới là con đường sống". Không thể sống trong đói rét, tăm tối, dốt nát. Bởi lẽ "người không có trí ít hiểu biết, chỉ làm đầy tớ cho người ta sai khiến mà thôi" (Mạnh Tử). Muốn biết thêm một, hai ngoại ngữ làm công cụ, muốn có một trình độ khoa học hiện đại, tiên tiến thì phải được đào tạo chuyên sâu, phải dày công học tập, phải biết tự học, tự đọc sách. Và bao giờ cũng vậy: "Rễ của học tập thì đắng; quả của học tập thì ngọt".
"Chỉ có kiến thức mới là con đường sống". Sống trong lao động sáng tạo. Sống để làm chủ thiết bị máy móc. Sống trong ánh sáng văn minh của khoa học kĩ thuật. Con đường sống mà Go-rơ-ki nói đến là con đường sáng tạo, có đời sống vật chất sang trọng, có đời sống tinh thần phong phú, tươi đẹp để làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên.
Gần 700 năm về trước, trong "Quốc âm thi tập", Nguyễn Trãi có viết:
"Nên thợ, nên thầy vì có học,
No ăn, no mặc bởi hay làm".
(Bảo kính cảnh giởi - bài 46)
Yêu sách nhưng không phải là con mọt sách. Đọc sách nhưng không được nô lệ vào sách, mà phải vừa thực sự cầu thị, vừa ý thức được: "Học cho rộng, hỏi cho kĩ, suy nghĩ cho cẩn thận, phân biệt cho sáng suốt, làm việc cho hết lòng" (Trung dung).
Người yêu sách là người biết coi trọng tri thức, rất hiếu học, lúc nào cũng muốn vươn lên thành kẻ sĩ (người trí thức) trong xã hội.
Trên con đường hội nhập, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tuổi trẻ Việt Nam không chỉ học ở trường, học thầy, học bạn, học trong thực tế cuộc sống, mà còn phải biết đọc sách, sách khoa học, sách kĩ thuật, sách ngoại ngữ, sách văn học,... biết tự học để vũ trang cho mình những kiến thức hiện đại, đem tài năng phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng đất nước phồn vinh.
Hãy phấn đấu cho mục tiêu mỗi học sinh có một ngăn sách, mỗi gia đình có một tủ sách, đúng như úc Trai đã nói: "Gia hữu cầm thư nhi bối lạc" (Trong nhà có đàn sách thì con cái vui). Đọc sách phải trở thành niềm vui sáng tạo. Tuổi trẻ chúng ta, ai cũng biết học trong sách, dành mỗi ngày một hai giờ đọc sách.
Hơn bao giờ hết, chúng ta càng thấy rõ câu nói của Go-rơ-ki là một lời khuyên đẹp: "Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống".
Bài làm 2
Đất nước ta đang bước vào thời đổi mới: công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Tuổi trẻ đã và đang tiến quân vào mặt trận khoa học kĩ thuật. Hơn bao giờ hết, mỗi chúng ta càng thấy rõ tầm quan trọng của việc đọc sách và học hành qua sách. Câu nói của M. Go-rơ-ki đã chỉ cho chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của vấn đề này: “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống”.
Thật vậy, sách đã đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển nền văn minh nhân loại. Mọi kiến thức về khoa học kĩ thuật, về văn hóa văn học của loài người đã được sáng tạo ra trong nhiều thiên niên kỉ, đã được lưu giữ lại qua hàng triệu triệu trang sách.
Những trang sử của các dân tộc từ xa xưa đến ngày nay đều được ghi chép lại trên những trang sách. Những phát kiến về địa lí, về thiên văn, về hải dương học, những kiến thức về thực vật, về động vật, những phát minh về máy móc, về điện lực, về kĩ thuật như công nghệ thông tin, y học hiện đại... đều được ghi chép lại, in ấn lại trên sách.
Sách có thể là những tấm da bò, những thẻ tre, những mộc bản, những thạch bản. ..cho đến những trang sách, quyển sách in bằng kĩ thuật hiện đại nhiều màu trên các loại giấy tốt như hiện nay. Có những cuốn sách đồ sộ hàng ngàn trang, hàng triệu triệu chữ như các cuốn Bách khoa toàn thư, các cuốn Từ điển ngôn ngữ, Từ điển chuyên ngành, cho đến các cuốn sử thi, Kinh thánh, các tập truyện phiêu lưu, truyền kì, các tập thi ca,... Đó là trí tuệ, tri thức của hàng ngàn, hàng vạn học giả, nhà triết học, nhà văn, nhà thơ, nhà khoa học trong nhiều thời đại để lại cho nhân loại hôm nay và mãi mãi sau này. Đúng sách là nguồn kiến thức. Và mỗi chúng ta phải biết yêu sách, phải biết trân trọng giữ gìn sách. Phải xem sách là người thầy, người bạn khai sáng cho mỗi chúng ta để mỗi chúng ta tiến bước trên con đường văn minh hiện đại.
Xã hội ngày một đổi mới. Đất nước ngày một đổi mới. Không thể sống trong tối tăm u mê. Không thể khoanh tay ngồi nhìn thiên hạ. Không thể quẩn quanh trong bốn bức tường, làm đầy tớ cho thiên hạ.
Thời đại mới cần có những con người mới; những con người có văn hoá cao, có kiến thức khoa học tiên tiến. Hơn bao giờ hết, ta càng thấy rõ lời khuycn của M. Go-rơ-ki: "'chỉ có kiến thức mới là con  đường sống”. Sống trong văn minh, sống trong khoa học kĩ thuật hiện đại, có thể làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình. Con đường đi lên của tuổi trẻ là con đường học vấn. Có thể học ở trường, học ở thầy, ở bạn, học ở trong thực tế cuộc sống. Nhưng không thể thiếu việc học trong sách vì sách là nguồn kiến thức, vì đọc sách thì ta mới có kiến thức để bước lên con đường sống, con đường văn hoá, con đường khoa học kĩ thuật. Ta càng thấm thìa lời dạy của Lê nin: "Không có sách thì không có tri thức; Không có tri thức thì không có chủ nghĩa cộng sản”.
Tóm lại, sách là giá trị tinh thần vô giá của nhân loại trên con đường đi tới văn minh. Sách có tác dụng vô cùng to lớn trong việc bồi đắp trí tuệ, tâm hồn của mọi người. Sách phát triển tài năng cho những con người hiếu học, thích khám phá và hiểu biết. Đọc sách và nhờ sách để tự khám phá chiều sâu tâm hồn mình, tự hoàn thiện nhân cách mình. Đọc sách còn là một phương pháp tự học rất thiết thực và hữu ích. Câu nói của M. Go-rơ-ki là một lời khuyên bổ ích đối với mỗi chúng ta. Hãy biết yêu sách, quý sách. Hãy coi sách là người thầy, người bạn để phấn đấu vươn lên trở thành một con người có học vấn cao, có kĩ thuật khoa học tiên tiến, biết đem tài năng góp phần phát triển đất nước, làm cho Việt Nam sớm trở thành một quốc gia dân giàu, nước mạnh, xã hội công bàng, dân chủ, văn minh.
Đãng Thảo Linh - lớp 8 THCS Thành phố Hải Phòng

Soạn bài Tức nước vỡ bờ

Nhà văn Ngô Tất Tố (1893-1954) quê ở làng Lộc Hà (nay thuộc huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội).
- Trước 1945, Ngô Tất Tố làm nhiều nghề: dạy học, bốc thuốc, làm báo, viết văn. Ông từng cộng tác với nhiều tờ báo: An Nam tạp chí, Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phổ thông, Đông Phương, Công dân, Hải Phòng tuần báo, Hà Nội tân văn, Thực nghiệp, Tương lai, Thời vụ, Con ong, Việt nữ, Tiểu thuyết thứ ba,…
- Trong Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia Uỷ ban Giải phóng xã (Lộc Hà). Năm 1946: gia nhập Hội Văn hoá Cứu quốc và lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp, Nhà văn từng là Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ Việt Bắc, hoạt động ở Sở Thông tin khu XII, tham gia viết các báo: Cứu quốc khu VII, Thông tin khu VII, Tạp chí Văn nghệ và báo Cứu quốc Trung ương và viết văn. Ông đã là Uỷ viên Ban chấp hành Hội văn nghệ Việt Nam (trong Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ I – 1948).
- Tác phẩm đã xuất bản: Ngô Việt xuân thu (dịch, 1929); Hoàng Hoa Cương (dịch, 1929); Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ (truyện kí lịch sử, 1935); Đề Thám (truyện kí lịch sử, viết chung, 1935); Tắt đèn (tiểu thuyết, báo Việt Nữ, 1939; Mai Lĩnh xuất bản, 1940); Lều chõng (phóng sự tiểu thuyết, 1940; đăng báo Thời vụ, 1941; Mai Lĩnh xuất bản, 1952); Thơ và tình (dịch thơ Trung Quốc, 1940); Đường Thi(sưu tầm, chọn và dịch, 1940); Việc làng (phóng sự, báo Hà Nội tân văn, 1940; Mai Lĩnh xuất bản, 1941);Thi văn bình chú (tuyển chọn, giới thiệu, 1941); Văn học đời Lí (tập I) và Văn học đời Trần (tập II, trong bộ Việt Nam văn học – nghiên cứu, giới thiệu, 1942); Lão Tử (soạn chung, 1942); Mặc Tử (biên soạn, 1942); Hoàng Lê nhất thống chí (dịch, tiểu thuyết lịch sử, 1942; báo Đông Pháp, 1956); Kinh dịch (chú giải, 1953); Suối thép (dịch, tiểu thuyết, 1946); Trước lửa chiến đấu (dịch, truyện vừa, 1946); Trời hửng(dịch, truyện ngắn, 1946); Duyên máu (dịch, truyện ngắn, 1946); Doãn Thanh Xuân (dịch, truyện ngắn, 1946, 1954); Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác (chèo, 1951).
Tác phẩm của Ngô Tất Tố sau này được tập hợp trong tuyển tập: Ngô Tất Tố và tác phẩm, gồm 2 tập, do Nhà Xuất bản Văn học ấn hành, 1971 – 1976.
- Nhà văn đã được nhận hai giải thưởng trong giải thưởng văn nghệ 1949 -1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam: Giải ba dịch (Trời hửng, Trước lửa chiến đấu) và giải khuyến khích (vở chèo Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (năm 1996).
2. Về tác phẩm:
a) Đoạn Tức nước vỡ bờ  trích từ chương XVIII của tác phẩm Tắt đèn – tác phẩm tiêu biểu nhất của nhà văn Ngô Tất Tố.
b) Trong đoạn trích, tác giả phơi bày bộ mặt tàn ác, bất nhân của chế độ thực dân phong kiến, đồng thời thể hiện sâu sắc nỗi thống khổ cũng như sức mạnh phản kháng tiềm tàng của người nông dân. Có đủ các hạng người được khắc hoạ sinh động trong bức tranh thu nhỏ của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng ấy. Giữa cái đám sâu bọ hại dân lúc nhúc ở cái làng quê u ám đang rên xiết trong vụ thuế kinh tởm ấy sáng lên một chị Dậu đảm đang, chịu thương chịu khó hết mực vì chồng vì con, một chị Dậu lam lũ, nhẫn nhục nhưng cũng đầy sức mạnh phản kháng, quyết không để đói khổ làm hoen ố phẩm hạnh. Hình tượng nhân vật này được xem là điển hình cho người phụ nữ nông dân bấy giờ.
c) Đoạn trích Tức nước vỡ bờ có thể coi là cao trào của một vở kịch mà mâu thuẫn, xung đột được thể hiện tập trung trong mối quan hệ giữa nông dân và địa chủ. Những người nông dân bị đẩy đến bước đường cùng đã bật lên hành động phản kháng. Tuy chỉ là hành động tự phát nhưng nó đã báo hiệu ngày tận thế của chế độ thực dân nửa phong kiến đã gần kề.
Bằng thiện cảm và thái độ bênh vực, tác giả đã làm nổi bật hình ảnh người phụ nữ nông dân thật thà chất phác, tha thiết yêu chồng con, sẵn sàng bất chấp hiểm nguy để bảo vệ hạnh phúc gia đình. Đó là biểu hiện của vẻ đẹp tâm hồn, sức sống tiềm tàng mạnh mẽ. Đồng thời, qua vài câu đối thoại và hành động cụ thể, tác giả đã làm bật lên bức chân dung vừa bỉ ổi, đểu cáng, độc ác vừa hèn hạ, nhu nhược của giai cấp phong kiến thống trị đương thời.
d) Đoạn trích cũng thể hiện một trình độ điêu luyện của tác giả: từ sự khéo léo trong khắc hoạ nhân vật cho đến việc lựa chọn sử dụng từ ngữ để lột tả chính xác, sinh động những diễn biến đầy kịch tính. Ông đã dựng lên một cảnh tượng cực kì sống động, một cảnh tượng đẹp, tươi sáng trong cái khung cảnh chung u ám, đen tối của Tắt đèn. Nội dung đoạn trích dự báo một khả năng, một sức mạnh lớn của người nông dân nói chung, phụ nữ nông dân nói riêng mà sau này, sức mạnh ấy được tập hợp thành vũ bão quật đổ thực dân, phong kiến trong Cách mạng tháng Tám 1945.
II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG
1. Tóm tắt:
Gia đình chị Dậu đã dứt ruột bán con mà chưa đủ tiền nộp sưu. Anh Dậu đang ốm cũng bị bọn tay sai lôi ra đình, đánh cho dở sống dở chết. Được bà hàng xóm cho bát gạo, chị Dậu vừa nấu xong nồi cháo thì cai lệ và người nhà lí trưởng ập đến. Mặc dầu chị Dậu hết lời van xin, cai lệ vẫn toan hành hạ anh Dậu. Chị Dậu xông vào đỡ tay, bị cai lệ đánh, và chị đã túm cổ đẩy tên này ngã chổng quèo. Người nhà lí trưởng sấn sổ giơ gậy định đánh thì bị chị Dậu túm tóc lẳng cho một cái ngã nhào ra thềm.
2. Cách đọc:
Khi đọc đoạn trích, ngoài lời trần thuật có tính chất tăng tiến, diễn tả không khí ngày càng căng thẳng, cần chú ý lời thoại của các nhân vật:
- Giọng cai lệ: hách dịch, nạt nộ.
- Giọng chị Dậu: từ nhún nhường van xin, dần dần căng thẳng, cuối cùng là quyết liệt, mạnh mẽ.
- Giọng anh Dậu: sợ hãi, hốt hoảng

Monday, June 27, 2016

Những bài văn nghị luận

Trên bia mộ trong một nghĩa trang kia có khắc mấy dòng chữ sau đây:
“Những gì tôi có, nay thuộc về người khác
Những gì tôi đã mua sắm, nay người khác hưởng dùng
Những gì tôi đã cho đi, nay thuộc về tôi”
Trình bày suy nghĩ của anh/chị về những dòng ấy .:::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::
Dòng đời xuôi ngược, người ta tìm những thứ đã đánh rơi, kiếm những gì đã lạc mất và cố mua cho được những thứ mình đang cần mà quên mất những giá trị mang lại cho con người hạnh phúc đích thực. Quả vậy, con người ngày nay có vẻ như bơ vơ, lạc lõng giữa một xã hội đầy đủ tiện nghi bởi cứ mải mê đi tìm, đi kiếm và đi mua cho được những thứ nay còn mai mất. Thực tế của cuộc sống đã cho thấy: tiền tài, danh vọng, sắc dục, các tiện nghi là những nhu cầu làm thỏa mãn cho sở thích của con người trong một thời gian ngắn, chỉ có những gì ta trao tặng thì mới đáng quý và đáng trân trọng. Trong chiều hướng đó, trên bia mộ trong một nghĩa trang có khắc mấy dòng chữ sau đây: “Những gì tôi có, nay thuộc về người khác. Những gì tôi đã mua sắm, nay người khác hưởng dùng. Những gì tôi đã cho đi, nay thuộc về tôi” như một lời nhắc nhở mỗi người phải biết ý thức trong việc mua sắm và sử dụng những tiện nghi sao cho phù hợp nhất.

“Những gì tôi có, những gì tôi đã mua sắm” là những thứ đồ dùng ta đang được sở hữu, do bởi sức lực con người làm ra, hay được thừa hưởng của người khác. Còn “Những gì tôi cho đi” thể hiện sự quảng đại của bản thân trong cách sử dụng của cải vật chất hay sự trao ban tình thương bằng tấm lòng vị tha, bao dung trước mọi hoàn cảnh trong cuộc sống. Vì thế, câu nói gợi lên trong ta sự bất lực của con người trước của cải vật chất trong cuộc đời. Nói khác hơn, nêu lên tầm quan trọng của giá trị cuộc sống hệ tại bởi sự cho đi không tính toán chứ không bởi thái độ tích góp giữ riêng cho bản thân.

Chưa bao giờ đồng tiền lại chi phối và quyến rũ con người như ngày nay, người ta có thể vì tiền mà bất chấp luân thường, đạo lý để làm sao sở hữu được chúng. Một câu vè đang được nhiều bạn trẻ ngày nay truyền tai nhau có nội dung như sau: “Tiền là tiên, là phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già, là cái đà danh vọng, là cái lọng che thân”. Có thế nói, nguyên nhân tiền có thể quyến rũ con người đến từ việc con người ngày nay quá chú trọng đến nhu cầu hưởng thụ. Vì thế, không làm ngạc nhiên khi tới các chợ hay vào các siêu thị thì có vô số mặt hàng “thượng vàng, hạ cám” đều có. Bởi vậy, ở mức độ nào đó con người ngày nay đang “ghiền mua sắm” vì các đồ dùng dễ dàng để mua, giá nào cũng có. Nói đâu xa, chúng ta lùi lại mười lăm năm về trước, sở hữu được một cái điện thoại di động là mơ ước của biết bao người, vì nó không chỉ đắt mà còn không có để mua. Người viết còn nhớ chừng hai mươi năm về trước lúc làng quê còn nghèo, cả thôn chỉ được một chiếc ti vi không màu, tối nào người trong thôn cũng đến xem kín cả sân và nó được xem như là “báu vật” của thôn. Vậy mà hôm nay dù cho ti vi đã hiện đại gấp mấy lần ti vi của ngày trước nhưng nó không được xem là “báu vật” nữa. Hay điện thoại cũng thế, về các vùng nông thôn hình ảnh những đứa bé chăn trâu, cắt cỏ sử dụng cũng không phải là chuyện hiếm.

Nêu lên dẫn chứng để thấy rằng: những gì ta đang sở hữu sẽ tàn phai theo năm tháng, nó không bao giờ là vĩnh cửu. Nói khác hơn, với sự phát triển của khoa học một cách nhanh chóng như ngày nay thì những sản phẩm hôm nay được xem là hiện đại những ngày mai bị xem là lỗi thời. Nói thế để chúng ta không nên cứ bám víu vào của cải là những thứ nay còn mai mất. Thử hỏi trong cuộc sống lúc nhắm mắt, buông tay có ai mang theo bên mình thứ gì mà cả đời đã bỏ tâm huyết để đi tìm. Lịch sử đã minh chứng điều này: một “Salomôn dù vinh hoa tuột bậc”, dù có trăm thê, ngàn thiếp thì lúc chết ông cũng không thể mang một ai theo bên mình. Một Tần Thủy Hoàng dù cho ngọc châu chất cao như núi cũng không thể mang được một chút bên mình lúc thần chết gõ cửa. Hay ông phú hộ mà Kinh Thánh đã nhắc tới, lúc còn sống ngày nào cũng yến tiệc linh đình, thưởng thức đủ các loại cao lương mỹ vị, vậy mà lúc qua khỏi cuộc đời ông thèm được một giọt nước từ Lazarô nghèo hèn cho thỏa cơn khát cũng không được. Quả vậy, con người ngày nay có những quan niệm thật lạ, dù biết những gì mình mua thì người khác sẽ hưởng dùng nhưng vẫn cứ thích sắm, những thứ mình đang sở hữu sẽ rơi vào tay người khác vẫn cứ khư khư giữ bên mình. Đó cũng chính là những thực tế mà mỗi người không thể phủ nhận.

Cuộc sống ngày càng nghiêng về chiều hướng hưởng thụ, ai cũng cố gắng tranh thủ tích góp tiền bạc hay củng cố địa vị, để tôn vinh cái tôi của mình, để thấy mình có giá trị. Từ đó, không gian tự do của con người ngày càng bị thu hẹp, ý niệm về tình thương đã thành lỗi thời. Nhưng thử hỏi trong cuộc sống có ai mà không cần tình thương, bởi tình thương là động lực giúp con người sống. Những giá trị mà tình thương mang đến lại vô cùng lớn lao. Một lời an ủi dành cho người đang gặp buồn sầu sẽ là động lực giúp họ vượt qua. Một sự quan tâm với người đang gặp đau khổ là sức mạnh giúp họ vơi bớt khổ đau. Một lời động viên, khích lệ cho người đang tuyệt vọng sẽ là nguồn trợ lực giúp họ đứng dậy bước đi tiếp. Nỗi tuyệt vọng, khổ đau, buồn sầu nếu được chứa đựng bởi hai trái tim thì nó sẽ vơi đi. Nói cách khác, cuộc sống luôn cần sự cho đi. Vì lúc biết cho đi thì con người sẽ nhận được nhiều hơn những thứ mình đã cho đi. Nhạc sĩ Quang Ánh đã viết lên những ca từ hết sức thâm thúy, đáng để ta suy gẫm trong ca khúc “Lời kinh cuộc đời” “khi biết cho đi là khi nhận lãnh, khi biết quên mình là lúc tìm thấy”, nghĩa là con người sẽ nhận được nếu biết cho đi, sẽ tìm thấy nếu biết quên mình. Cuối những thập niên của thế kỷ 20 khi xã hội đang từng ngày biến chuyển, ai cũng muốn tích góp cho mình thật nhiều của cải thì có một Têrêxa Canculta đã cho đi tất cả phần đời của mình, ngay từ lúc mới lập hội chuyên chăm lo cho người nghèo thì bị người đương thời cho là một việc làm điên rồ. Vậy mà lúc về già, dù chưa một lần sinh con vẫn được cả thế giới gọi là “mẹ”, dù mang thân hình nhỏ bé nhưng lại chứa đựng một tình yêu bao la, ngay cả trong một buổi tĩnh tâm tại Giáo triều Rôma, bài giảng của mẹ vẫn được nhiều thành viên tham dự viên để ý hơn các bài giảng của những vị có học thức khác. Vì thế sự cho đi sẽ không bao giờ trở nên vô ích, có thể ngay tại thời điểm cho đi ta chưa nhận ra được những ích lợi từ nó, nhưng với thời gian khi hạt giống của sự cho đi được gieo xuống cuộc đời thì nó sẽ trổ sinh trái ngon, quả tốt.

Những tiện nghi nhằm phục vụ cho con người trong cuộc sống chỉ là nhu cầu cần chứ chưa đủ. Nghĩa là không thể phủ nhận những ích lợi mà chúng mang tới cho con người. Nhưng cũng không vì thế mà ta cứ mải mê đi tìm những thứ đó. Vì trong cuộc sống còn có những thứ quan trọng hơn như: tình thương, sự trao ban, đó là những hành động mang tới cho con người cảm giác hạnh phúc. Chính tình thương là quà tặng của cuộc sống, sự trao ban là nét đẹp trong cuộc đời mà ai cũng khát khao. Tình thương sẽ phát sinh năng lực sống cho con người, sự trao ban là động lực giúp đối tượng được lớn lên. Những tiện nghi có thể mua bằng tiền nhưng lại không tồn tại với thời gian. Còn tình thương không phải mua bằng bạc nhưng ở mãi với cuộc sống. Dù con người có sống đầy đủ trong tiện nghi vật chất mà không có tình thương thì lúc bước qua bên kia cuộc đời cũng chẳng để lại gì cho cuộc sống.

Tóm lại, tiền bạc sẽ không theo con người lúc chết, những tiện nghi sẽ nói lời vĩnh biệt lúc con người qua thế giới bên kia. Chỉ còn lại tình thương và sự trao ban mới sống mãi với thời gian. Vì thế, dù câu nói trên chỉ khắc trên bia mộ nhưng nó vẫn mang lại cho cho cuộc đời nhiều bài học đáng quý, đáng trân trọng, và nó phản ánh được thực tế sống của cuộc sống để giúp con người ý thức về sự hiện hữu của mình giữa cuộc đời phải làm sao khi bước qua sự chết còn có một cái gì để lại trong thế gian. Nói khác hơn, dù ở bất cứ thời đại nào thì câu nói là bài học chứa đựng một triết lý sống để ta ý thức hơn về hành trình sống của kiếp nhân sinh.

Đôi lúc cứ tưởng rằng, đầy đủ tiện nghi vật chất sẽ mang tới cho con người hạnh phúc, chỉ cần tích góp thật nhiều của cải thì cuộc sống sẽ trở nên viên mãn. Nhưng nào ngờ khi chúng suy nghĩ về câu nói được khắc trên nghĩa trang ta giật mình thấy trong cuộc sống sự cho đi đáng quý gấp ngàn lần những tiện nghi. Hơn nữa sự cho đi cũng không phải vất vả để đi tìm, nó luôn ẩn náu trong cuộc sống chỉ cần chúng ta mở rộng dung lượng trái tim thì chúng sẽ phát sinh. Vì thế, sẽ không thiệt thòi nếu chúng ta biết mở rộng lòng mình ra để trao ban tình thương trong cuộc sống, để lúc nhắm mắt, buông tay tình thương là lệ phí giúp đến bến bờ hạnh phúc.

VẺ ĐẸP CỦA SÔNG ĐÀ VÀ SÔNG HƯƠNG

1. VẺ ĐẸP CỦA SÔNG ĐÀ VÀ SÔNG HƯƠNG 🐳 
ĐỀ: Phân tích vẻ đẹp của Sông Đà và Sông Hương từ đó làm nổi bật văn phong của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường 



HƯỚNG DẪN LÀM BÀI::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::
A- Mở bài
- Giới thiệu đề hai tác giả Nguyễn Tuân và Hoang Phủ NGọc Tường và hai tác phẩm" Người lái đò Sông Đà" và " Ai đã đặt tên cho dòng sông"
- Giới thiệu yêu cầu của đề bài
B- Thân bài:
1- Vẻ đẹp độc đáo của Sông Đà
- Trong tuỳ bút " Người lái đò Sông Đà" Nguyễn Tuân đã xây dựng SôngĐà như một nhân vật có tính cách, rất sinhđộng:
a- Tính cach hung bạo thể hiện qua:
- Hai bên bờ sông đá dựng vách thành, có những chỗđá chẹn lấy lòng sông như một cái yết hầu, có nhữngđoaạnn sông chỉ chính ngọ mới có mặt trời.....
- Có những đoan như ở mặt ghềnh Hat Lo óng dài hàng cây số" Nước xô đá, đá xô sóng, cuồn cuộn luồng sóng gung ghè suốt năm"
- Sông Đà hung bạo vì có nhưng cái hút nược ghê rợn. Nước ở đó lúc nào cũng réo lên như vừa mới rót dầu sôi vào, kêu ằng ặc như cửa cống cái bị sặc. Có chiếc thuyền nào vô ý rơi vào những hút nước ấy, lập tức trồng ngay cây chuối ngược, đi ngầm dưới lòng sông và mươi phút sau mới thấy tan xác ở dưới khuỷnh sông....
- SôngĐà hung bạo bởi những thác nước ở thượng lưu:
+ Tiếng nước thác được miêu tả đặc biệt( Trích dẫn)
+ Đá lớn đá nhỏ dàn bày thạch trận trên sông ( trích dẫn)
-> Sông Đà hiện lên hùng vĩ và có diện mạo như kẻ thù số 1 của con người.
b- Tính cách trữ tình của Sông Đà:
- Sông Đà như một mái tóc tuôn dài...( dẫn chứng)- mang dáng vẻ của một thiếu phụ
- Nước sông Đà thay đổi theo mùa, mùa xuân dòng xanh ngọc bích, mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bị bầm đi vì rượu bữa..
- Bờ sông Đà hoang dại như đôi bờ tiền sử, bờ sông hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích ngày xưa...
- Sông Đà mang dáng vẻ của một cố nhân" Đi rừng dài ngày rồi bắt ra Sông Đà nó đằm đằm âm ấm như gặp lại cố nhân"
- Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà đều đẹp một cách đặc biệt....
- Thỉnh thoảng trên sông những đàn cá dầm xanh, cá anh vũ quẫy mình vọt lên mặt nước bụng trắng như bạc rơi thoi.
- Sông Đà còn mạng vẻ đẹp rất cổ điển của Đường Thi " Yên hoa tam nguyệt". Vẻ đẹp của truyện thần thoại" Sơn tinh Thuỷ tinh" ....
-> Vẻ đẹp tuyệt mĩ của Sông Đà chính là vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước.
2- vẻ đẹp của Sông Hương
a- Sông Hương ở thượng nguồn
+ Sông Hương tựa như “một bản trường ca của rừng già” với nhiều tiết tấu hùng tráng, dữ dội: khi “ rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn”, lúc “ mãnh liệt vượt qua ghềnh thác”, khi “ cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực sâu”, lúc “ dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”.
+ Sông Hương hiện ra tựa “Cô gái Digan phóng khoáng và man dại” với một “bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”.
=> Theo tác giả, nếu ai đó mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của dòng sông thì sẽ không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ. Cái tâm hồn vừa sục sôi vừa đằm thắm của “thiếu nữ A Pàng”.
b- Sông Hương khi chảy vào thành phố Huế
* Trong cái nhìn minh triết và lãng mạn của tác giả: Trước khi trở thành “Người tình dịu dàng và chung thuỷ của cố đô”, toàn bộ thuỷ trình của dòng sông tựa như một cuộc tìm kiếm có ý thức người tình nhân đích thực của người con gái trong một câu chuyện tình yêu nhuốm màn cổ tích:
- Giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại: Sông Hương là “cô gái đẹp ngủ mơ màng”.
- Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi: Sông Hương như nàng tiên được đánh thức: Bừng lên sức trẻ và niềm khát khao của tuổi thanh xuân trong sự “chuyển dòng liên tục”, rồi “vòng những khúc quanh đột ngột”, “vẽ một hình cung thật tròn”, “ôm lấy chân đồi Thiên Mụ”, rồi “trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách”.
- Khi chảy qua kinh thành Huế Sông Hương như cô gái Huế: tài hoa, dịu dàng mà sâu sắc, đa tình mà kín đáo, lẳng lơ nhưng rất mực chung tình. Khéo trang điểm mà không loè loẹt, giống như cô dâu Huế ngày xưa trong sắc áo điều lục.
=> Như từng thấy chính mình khi gặp thành phố thân yêu, số Hương “vui tươi hẳn lên giữa những bãi xanh biếc của ngoại ô Kim Long” rồi kéo một nét thẳng đầy cá tính “ theo hướng tây nam – đông bắc”, rồi “uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Huế” những dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng “Vâng!” không nói ra của tình yêu.”
Và rồi “Như sực nhớ điều gì chưa kịp nói”, sông Hương đột ngột đổi dòng, “rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối cùng ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ.”. Trong cái nhìn đa tình của tác giả: khúc quanh bất ngờ đó tựa như “một mỗi vương vấn”, và dường như còn có cả “một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”...
c- Sông Hương với vẻ đep văn hoá và lịch sử
- Là dòng sông bảo vệ biên thuỳ “dòng sông Viễn Châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của tổ quốc Đại Việt qua những thế kỷ trung đại”.
- Là dòng Linh Giang (dòng sông thiêng) ghi dấu những thế kỷ vinh quang thuở các Vua Hùng.
- Từng soi bóng “kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ.”
- “Nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỷ XIX với máu của những cuộc khởi nghĩa.”
- Sông Hương chứng kiến thời đại mới với cách mạng tháng Tám năm 1945.
- Với cuộc đời: sông Hương là nhân chứng nhẫn nại và kiên cường qua những thăng trầm của cuộc đời.
- Với thi ca và âm nhạc:
+ Có một dòng thi ca về sông Hương: “Một dòng thơ không lặp lại mình”. Đó là:
. “Dòng sông trắng – lá cây xanh” trong thơ Tản Đà.
. Là nỗi quan hoài vạn cổ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan.
. Là vẻ đẹp hùng tráng “như kiến dựng trời xanh” trong thơ Cao Bá Quát.
. Và nhất là Nguyễn Du: “Hương giang nhất phiến nguyệt- kim cổ hứa đa sầu”.
=> Xin nói thêm: Cả cái “Màu thời gian tím ngát” của Đoàn Phú Tứ, “nhân loại tím” của Trần Dần cũng từ màu tím Sông Hương mà ra.
+ Sông Hương gắn với nhã nhạc cung đình Huế:
. Có lúc trở thành “Người tài nữ đáh đàn lúc đêm khuya”.
. Sông Hương là Kiều trong mối quan hệ “Thi trung hữu nhạc”: -> Đó là “Tứ đại cảnh” trong hai câu thơ: “Trong như tiếng hạc bay qua - Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.”
-> Ca ngợi vẻ đẹp của Sông Hương tức là ngợi ca vẻ đẹp của đất nước
3- Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường
a- Văn phong Hoang Phủ Ngọc Tương
- Ngoài so sánh, trí tưởng tượng, tác giả còn sử dụng nhièu phép nhân hoá và ân dụ và lối thuyết minh cócảm xúc như một kiểuđon bẩy nghệ thuật giàu hình ảnh, giàu sức gợi cảm.
-Nét đặc sắc của văn phong của ông còn thể hiện ở tình yêu say đắm, niềm tự hào tha thiết với quê hương xứ sở, với đối tượng miêu tả khiến dòng sông hiện lên lung linh huyền ảo, đa dạng như đời sống như tâm hồn của con người.
-Đặc biệt ta còn cảm nhận ở đây sức liên tưởng kì diệu, sự hiểu biết sâu sắc về địa lí, lịch sử và văn hoá nghệ thuật và những trải nghiệm của bản thân tác giả. Đó là những nguyên nhân cơ bản làm nên nét đặc biệt của văn phong Hoàng Phủ Ngọc Tường.
b- Văn phong của Nguyễn Tuân
- Phong cách nghệ thuật là lối chơi ngông bằng văn chương : Cố ý làm khác người, thích cái độc đáo, cái duy nhất không giống ai… từ đề tài, lối kết cấu, hành văn, cách dùng từ, đặt câu.
- Tính uyên bác, tài hoa của Nguyễn Tuân là ở :
+ Tiếp cận mọi sự vật ở phương diện văn hóa thẩm mỹ của nó để khám phá, phát hiện khen hay chê .
+ Vận dụng tri thức của nhiều ngành văn hóa ng/th khác nhau để quan sát hiện thực, sáng tạo h/ tượng.
+ Luôn nhìn người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ và sáng tạo nên những nhân vật tài hoa nghệ sĩ .
+ Tô đậm cái phi thường xuất chúng,gây cảm giác m/ liệt, dữ dội đến mức khủng khiếp – Đẹp đến tuyệt vời
- Nguyễn Tuân cung thiết tha vô cùng với quê hương đấtt nước
C- Kết bài:
- Qua hai tuỳ bút "NLDSĐ" va" ADDTCDS" ta cảm nhận được sâu sắc tình yêu quê hương đất nước, Tự hào về vẻ đẹp của quê hương đất nước
- Hiểu sâu sắc hơn về văn phong của các cây bút tài hoa: Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tương
--Page Luyện Siêu Kỹ Năng Ngữ Văn—

2.Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của hình tượng sông Đà trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà” – Nguyễn Tuân và hình tượng sông Hương trong tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” – Hoàng Phủ Ngọc Tường. Từ đó, trình bày suy nghĩ của mình về việc bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của quê hương, đất nước.
Định hướng cách làm bài:
Đây là dạng đề cảm nhận về hai hình tượng nghệ thuật, các em có thể tham khảo dàn ý sau:

I. Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề cần bàn luận.
– Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân và Người lái đò sông Đà
– Giới thiệu tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường và Ai đã đặt tên cho dòng sông
– Giới thiệu vấn đề nghị luận : vẻ đẹp của sông Hương, sông Đà, và về việc bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của quê hương, đất nước.

II. Thân bài:
1. Nét tương đồng của 2 dòng sông:
a/ Sông Đà và sông Hương đều được các tác giả miêu tả như một nhân vật trữ tình có tính cách với những vẻ đẹp đặc trưng riêng biệt, thể hiện tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương, đất nước.
b/ Sông Đà và sông Hương đều mang nét đẹp của sự hùng vĩ, dữ dội.
– Vẻ đẹp hùng vĩ của sông Đà được thể hiện qua sự hung bạo và dữ dội của nó trên nhiều phương diện khác nhau cảnh trí dữ dội, âm thanh ghê rợn, đá sông Đà như đang bày trùng vi thạch trận.
– Khi chảy giữa lòng Trường Sơn, sông Hương chảy dữ dội tựa 1 bản trường ca của rừng già, tựa cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại….
c/ Sông Đà và sông Hương đều có vẻ đẹp thơ mộng và trữ tình:
– Sông Đà: dáng sông mềm mại tựa mái tóc tuôn dài tuôn dài, màu nước thay đổi qua từng mùa, vẻ đẹp hoang sơ, cổ kính…
– Sông Hương: với dòng chảy dịu dàng và đắm say giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Sông Hương còn mang vẻ đẹp của người con gái ngủ mơ màng chờ người tình mong đợi đánh thức. Nó còn được ví như điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế…
d/ Cả 2 đều được miêu tả qua ngòi bút tài hoa, uyên bác:
– Tài hoa:
2 dòng sông đều được miêu tả trên phương diện văn hóa, thẩm mĩ:
+ Sông Đà là nơi hội tụ 2 nét tiêu biểu, đặc trưng của thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ, uy nghiêm, dữ dội lại vừa trữ tình, thơ mộng.
+ Sông Hương là dòng sông của âm nhạc, dòng sông của thơ ca, của lịch sử gắn liền với những nét đặc sắc về văn hóa, với vẻ đẹp của người dân xứ Huế.
– Uyên bác:
cả 2 tác giả đều vận dụng cái nhìn đa ngành, vận dụng kiến thức trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật để khắc họa hình tượng 2 dòng sông. 2. Nét độc đáo riêng trong từng hình tượng dòng sông:
a/Sông Đà:
– Trong đoạn trích, nhà văn tập trung tô đạm nét hung bạo, dữ dội của sông Đà giống như 1 kẻ thù hiểm độc và hung ác
-> Thể hiện rõ nhất qua hình ảnh nước dữ, gió dữ, đá dữ đặc biệt đá bày trùng vi thạch trận chực lấy đi mạng sống của con người. – Sông Đà được cảm nhận ở chính nét dữ dội, phi thường, khác lạ: tiếng thét của sông Đà như tiếng thét của ngàn con trâu mộng, đá trên sông đà mỗi viên đều mang 1 khuôn mặt hung bạo, hiếu chiến…
– Đặc biệt, tác giả miêu tả sự hung bạo của sông Đà để làm nổi bật sự tài hoa, tài trí của người lái đò. Lúc này đây, sông Đà như 1 chiến địa dữ dội. Và mỗi lần vượt thác của người lái đò là mỗi lần ông phải chiến đấu với thần sông, thần đá… b/ Sông Hương:
– Sông Hương được tô đậm ở nét đẹp trữ tình, thơ mộng, gợi cảm và nữ tính, luôn mang dáng vẻ của 1 người con gái xinh đẹp, mong manh có tình yêu say đắm. Khi ở thượng nguồn, nó là cô gái Digan phóng khoáng, man dại; khi ở cánh đồng Châu Hóa, nó là cô thiếu nữ ngủ mơ màng; khi lại như người tài nữ đánh đàn giữa đem khuya, hay là nàng Kiều tài hoa, đa tình mà lại chung tình, là người con gái dịu dàng của đất nước.
– Sông Hương được miêu tả qua chiều sâu văn hóa xứ Huế, nó như người mẹ phù sa bồi đắp cho vùng đất giàu truyền thống văn hóa này từ bao đời nay.
– Sông Hương được cảm nhận qua lăng kính của tình yêu: thủy trình của sông Hương là thủy trình có ý thức tìm về người tình mong đợi. Khi chảy giữa Huế, sông Hương mềm hẳn đi như 1 tiếng ” vâng” không nói ra của tình yêu. Trước khi đổ ra cửa biển, sông Hương như người con gái dùng dằng chia tay người yêu, thể hiện 1 nỗi niềm vương vấn với 1 chút lẳng lơ kín đáo.
– Thông qua hình tượng sông Hương mang nét đẹp nữ tính, nhà văn thể hiện nét đẹp lãng mạn, trữ tình của đất trời xứ Huế
3. Trách nhiệm bản thân trong việc bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của quê hương, đất nước
Học sinh có thể trình bày quan điểm cá nhân dựa trên những gợi ý sau : Thế hệ trẻ cần có trách nhiệm bảo vệ cảnh quan đất nước qua hành động cụ thể như: yêu quí, bảo vệ môi trường, quảng bá thắng cảnh…
III/ Kết luận:
Đánh giá chung về đóng góp của hai nhà văn

– Qua vẻ đẹp tương đồng của 2 dòng sông, ta bắt gặp sự tương đồng độc đáo của 2 tâm hồn có tình yêu thiên nhiên tha thiết và niềm tự hào với vẻ đẹp của non sông đất nước Việt Nam.
– Mỗi nhà văn đều có 1 phong cách nghệ thuật độc đáo trong việc thể hiện hình tượng các dòng sông, giúp người đọc có những cách nhìn phong phú, đa dạng về vẻ đẹp của quê hương, đất nước mình.

SO SÁNH NHÂN VẬT TRÀNG VÀ A PHỦ

SO SÁNH NHÂN VẬT TRÀNG VÀ A PHỦ 
ĐỀ: Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của hai nhân vật Tràng trong tác phẩm Vợ nhặt – Kim Lân và A Phủ trong Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài 
Bài làm::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::BÀI LÀMHình tượng người lao động từ lâu đã trở thành một đề tài lớn của văn học nghệ thuật thu hút biết bao ngòi bút văn chương. Không ít tác giả đã thành công về đề tài này trong đó có Kim Lân và Tô Hoài. Với hai tác phẩm “Vợ nhặt” và “Vợ chồng A Phủ”, cả hai nhà văn đã dựng nên được hình tượng con người lao động với bao phẩm chất đáng quý. Đó là anh Tràng hiền lành nhân hậu trong “Vợ nhặt” và A Phủ chàng trai của tự do trong “Vợ chồng A Phủ”.
Kim Lân là một cây bút chuyên viết truyện ngắn, thế giới nghệ thuật của ông tập trung ở khung cảnh nông thôn và người nông dân. Tác phẩm “Vợ nhặt” trích trong tập truyện “Con chó xấu xí”. Truyện được viết ngay sau Cách mạng với tên gọi “Xóm ngụ cư”. Nhưng do thất lạc bản thảo nên sau khi hòa bình lập lại, tác giả đã viết lại thành “Vợ nhặt”.
Nếu Kim Lân thiên về đề tài nông thôn thì Tô Hoài lại rất am hiểu văn hóa nhiều vùng miền khác nhau trên đất nước ta. Trong đó đặc biệt là văn hóa Tây Bắc. Chính vùng đất và con người nơi đây đã thổi hồn vào trang viết của ông để lại bao hình ảnh đẹp. “Vợ chồng A Phủ” là một trong những tác phẩm xuất sắc của Tô Hoài viết về con người và thiên nhiên nơi đây.
Cả hai thiên tài truyện ngắn Kim Lân và Tô Hoài đều là đại biểu ưu tú của dòng văn học hiện thực phê phán. Dưới ngòi bút của các nhà văn hiện thực, con người lao động hiện lên với những phẩm chất chung đáng quý. A Phủ và Tràng đều là những con người lao động lương thiện, nhân hậu, sống nghĩa tình. Ở họ còn ngời sáng bởi phẩm chất lao động cần cù, chịu thương chịu khó. Họ khao khát mái ấm gia đình, khao khát tình yêu, khao khát tự do trong một thế kỷ bạo tàn. Họ đều là nạn nhân đáng thương của chế độ xã hội cũ, bị bóc lột, bị đẩy đến con đường cùng. Nhưng ở họ vẫn luôn khao khát được sống, được vươn lên. Tràng bị nạn đói dồn đẩy đến vực thẳm của cái chết nhưng vẫn khát vọng mái ấm, anh đã xây hạnh phúc trên nền thảm đạm của chết chóc mà vẫn hi vọng được đổi đời. A Phủ bị lăng nhục, bị chà đạp nhưng vẫn khao khát tự do. Anh đã vượt ngục để đến miền đất hứa Phiềng Sa cùng Mị xây đắp hạnh phúc của mình. Ở họ tuy điều kiện hoàn cảnh sống và lịch sử khác nhau nhưng đều có những kết thúc tốt đẹp dù trước đó là một chuỗi bi kịch cuộc đời tăm tối.
Bên cạnh những điểm giống nhau đó, ở hai nhân vật này có nhiều điểm riêng biệt mang đến những vẻ đẹp khác nhau.
Trước hết ta hãy đến với nhân vật Tràng. Tìm hiểu vào truyện ta thấy, Tràng là người dân ngụ cư nghèo khổ, có phẩm chất hiền lành, tốt bụng; sẵn lòng cưu mang người đồng cảnh ngộ trong nạn đói khủng khiếp.
Tràng là dân ngụ cư nghèo khổ, làm nghề đẩy xe bò thuê. Anh sống với mẹ già. Gia cảnh nghèo túng. Cái được gọi là “nhà” thì luôn “vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”. Đã vậy, Tràng lại có ngoại hình xấu xí, thô kệch. Ngay cả đến tên gọi cũng là tên gọi của một loại đồ vật dùng trong nghề mộc (Cái Tràng, cái Đục). Với vài nét bút phác họa giản đơn, Tràng hiện lên có phần giống với những thằng đần, thằng ngốc trong truyện cổ tích. Cái lưng thì được nhà văn tạo thành “lưng gấu”, cái mặt thì ấn tượng bởi “hai con mắt nhỏ tý gà gà. Quai hàm bạnh”. Tính cách thì phần trẻ con nhiều hơn. Vì thế chẳng mấy ai thèm nói chuyện, trừ lũ trẻ hay chọc ghẹo khi anh ta đi làm về.
Nhưng Kim Lân không có ý định viết truyện cổ tích với thằng đần thằng ngốc mà ông đang kể lại một sự thật, sự thật đắng lòng về cái đói và tình người năm đói. Thật ra, ban đầu Tràng không chủ tâm tìm vợ. Tràng cũng thừa biết, người như hắn thì không thể có vợ. Khi đẩy xe bò mệt mỏi anh chỉ hò một câu cho vui “Muốn ăn cơm trắng mấy giò này/ Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì”. Tràng chỉ muốn hò để xua đi mỏi mệt trong người. Anh cũng chẳng có ý chòng ghẹo ai cả. Ai ngờ có người đàn bà đói xông xáo đến đẩy xe thật. Nhưng vì đùa vui nên Tràng đã không giữ đúng thỏa thuận của câu hò. Nhưng Tràng cảm thấy hạnh phúc biết bao khi gặp được cái “cười tít mắt của thị” bởi “từ xưa đến giờ có ai cười với hắn một cách tình tứ như vậy đâu”.
Hôm sau gặp lại: Khi Tràng đang ngồi nghỉ trước cổng chợ tỉnh thì bất ngờ có người đàn bà sầm sập chạy đến, cong cớn, sưng sỉa với hắn “Điêu, người thế mà điêu”. Tràng không nhận ra người đàn bà ngày trước đẩy xe cho mình. Trước mặt hắn là một người đàn bà thảm hại đã bị cái đói tàn hại cả nhan sắc lẫn nhân cách: “Thị gầy sọp hẳn đi, ngực gầy lép, khuôn mặt lưỡi cày hốc hác, quần áo rách như tổ đỉa”. Thấy người đàn bà đói, rách rưới thảm hại. Tràng động lòng thương. Có ai ngờ được rằng trong con người thô kệch ấy lại có một tấm lòng thương người cao cả. Thế rồi Tràng cho người đàn bà kia ăn, không chỉ ăn mà còn cho ăn rất nhiều “bốn bát bánh đúc”. Đó chính là lòng thương một con người đói khát hơn mình chứ Tràng không hề có ý định lợi dụng hoặc chòng ghẹo.
Vốn tính hay đùa, Tràng lại tầm phơ tầm phào “Nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân đồ lên xe rồi về”. Nói đùa thế thôi, ai ngờ thị về thật. Lúc đầu Tràng phảng phất lo sợ về cái đói và cái chết“mới đầu anh cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”. Đó là nỗi sợ hãi có thật nhất lại là thời đói kém như thế này. Nhưng có lẽ tình thương người và khát vọng hạnh phúc đã lớn hơn nỗi sợ hãi nên sau đó anh chặc lưỡi “Chậc kệ!” Chỉ một từ “kệ” thôi, Tràng như đã bỏ lại sau lưng mình tất cả nỗi sợ hãi, mọi lo nghĩ để vun vén cho cái hạnh phúc của mình.
Trong hoàn cảnh khốn cùng, Tràng vẫn khát khao hạnh phúc, có ý thức tạo dựng mái ấm gia đình:
Khi người phụ nữ chấp nhận làm vợ, Tràng đã có ý thức chăm sóc: “hắn đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa no nê…”. Tràng còn hào phóng “ mua hai hào dầu để thắp sáng”.
Trên đường về: (khác với anh Tràng hôm qua buồn bã, cúi mặt lo âu nghĩ ngợi). Hôm nay Tràng có niềm vui lạ, một niềm hạnh phúc tràn ngập khiến mặt Tràng cứ “phớn phở khác thường”. Thỉnh thoảng lại còn cười nụ một mình. Lúc thì hắn đi sát người đàn bà, lúc lại lùi ra sau một tí, hai tay cứ xoa vào vai nọ vai kia, lại muốn nói đùa một câu, lại cứ thấy ngường ngượng. Kim Lân đã làm người đọc thấy được sự thay đổi về tâm lí của Tràng. Tràng thật sự đã khác với Tràng hôm qua. Trong lòng Tràng tràn ngập niềm vui sướng miên man khiến “Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ dọc sống lưng”. Thế là rõ rồi: Hạnh phúc đang làm anh thay đổi.
Khi về đến nhà, lúc đầu Tràng thấy “ngượng nghịu” rồi cứ thế “ đứng tây ngây ra giữa nhà, chợt hắn thấy sờ sợ”. Nhưng đó chỉ là cảm giác thoáng qua thôi. Hạnh phúc lớn lao quá khiến Tràng lại lấy lại được thăng bằng nhanh chóng. Lúc sau Tràng tủm tỉm cười một mình với ý nghĩ có phần ngạc nhiên sửng sốt, không dám tin đó là sự thật: “hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư ?”. Đó là sự ngạc nhiên trong sung sướng.
Lúc chờ đợi Mẹ về: Tràng nóng ruột, đi đi lại lại. Chưa bao giờ người ta thấy hắn nôn nóng như thế. Khi mẹ về, hắn mừng rỡ, rối rít như trẻ con vì dù sao Tràng vẫn còn có mẹ – đó là đấng tối cao của Tràng vì chỉ có mẹ mới quyết định được hạnh phúc của hắn. Tràng nóng lòng thưa chuyện với mẹ. Bắt mẹ ngồi lên giường để thưa chuyện. Cho thấy, anh Tràng không còn là người vô tư nông cạn nữa. Tràng đã ý thức được việc lấy vợ là việc hệ trọng cả một đời. Nên với hắn, đây là giây phút thiêng liêng và trọng đại. Khi được đồng ý, Tràng thở đánh phào một cái nhẹ cả người. Thế là Tràng đã có gia đình, có vợ, không tốn tiền cưới hỏi, Tràng lấy được vợ thật hiển hách.
Tràng có khát vọng sống mãnh liệt, có niềm tin vào tương lai tươi sáng. Từ một anh phu xe cục mịch, sống vô tư, chỉ biết việc trước mắt, Tràng đã là người quan tâm đến những chuyện ngoài xã hội và khao khát sự đổi đời.
Sau khi lấy vợ, Tràng trở thành một người sống có trách nhiệm, biết suy nghĩ chín chắn. Nhà văn đã mang đến cho người đọc hơi thở mới của Tràng vào sau cái đêm tân hôn. Tràng thức dậy, đầu tiên đó là một cảm giác dễ chịu “Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Đó là tâm trạng hạnh phúc. Tràng cảm động khi thấy mẹ và vợ dọn dẹp lại nhà cửa nhất là khi nghe tiếng chổi tre quét từng nhát sàn sạt trên sân. Một nỗi lòng yêu thương, một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng”. Đấy chính là hạnh phúc đang thức tỉnh anh. Cuộc sống đang vẫy gọi anh.
Khi tiếng trống thúc thuế ngoài đình vang lên vội vã, dồn dập, Tràng đã thần mặt ra nghĩ ngợi, đây là điều hiếm có đối với Tràng xưa nay. Trong ý nghĩ của anh lại “vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp” để cướp kho thóc của Nhật và “đằng trước là lá cờ đỏ”. Tràng nhớ tới cảnh ấy và lòng ân hận, tiếc rẻ và trong óc vẫn thấy đám người đói và lá cờ bay phấp phới…Chi tiết này thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm. Tác giả mở ra con đường sống cho những con người đang đứng bên bờ vực của cái chết đó là chỉ có đi theo cách mạng mới có thể giải phóng được số phận của mình. Nhà văn dự báo, rồi đây Tràng sẽ có mặt trong đoàn người đói ấy, Tràng sẽ đi phá kho thóc Nhật. Và cuộc sống sẽ lại mở ra trang đời mới.
Xây dựng nhân vật Tràng, nhà văn đã đặt nhân vật trong tình huống truyện độc đáo; diễn biến tâm lí được miêu tả chân thực, tinh tế; ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, phù hợp với tính cách nhân vật. Đây là loại nhân vật tiêu biểu cho phát ngôn của nhà văn trong tác phẩm.
Nếu như nhân vật Tràng của Kim Lân với những vẻ đẹp tâm hồn sáng ngời nhân cách, phẩm giá thì A Phủ của Tô Hoài cũng mang đến cho người đọc nhiều vẻ đẹp lấp lánh của tâm hồn.
A Phủ là một chàng trai có số phận éo le, là nạn nhân của những hủ tục lạc hậu: A Phủ người Háng Bla. Cha mẹ, anh chị em của A Phủ mất trong một trận dịch đậu mùa. Năm ấy A Phủ mười tuổi. Tuy còn nhỏ nhưng A Phủ đã mang trong mình một cá tính mạnh mẽ. Khi có người làng đói bắt A Phủ bán cho người Thái dưới cánh đồng thấp. A Phủ ngang bướng không cam chịu ở dưới cánh đồng thấp, A Phủ trốn lên núi cao rồi lưu lạc đến Hồng Ngài.
Tết đến xuân về, mọi người đều có quần áo mới còn A Phủ thì chỉ độc một cái vòng vía trên cổ. A Phủ chẳng lấy nổi vợ vì hủ tục của làng bản. Vì A Phủ “không có bố mẹ, không có ruộng, không có bạc”.
Dù cuộc đời chịu nhiều bất hạnh nhưng A Phủ là một con người có phẩm chất tốt đẹp.
A Phủ là chàng trai tự do của núi rừng, anh yêu lao động, giỏi giang: “biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày giỏi và săn bò tót rất bạo…”. A Phủ rất khỏe, chạy nhanh như ngựa. A Phủ đã trở thành niềm khát khao của bao cô gái trong làng “ Lấy được A Phủ là bằng được con trâu tốt trong nhà”. Nhưng A Phủ nghèo nên không lấy được vợ. Tuy vậy, vượt lên trên hoàn cảnh khó khăn, A Phủ vẫn sống một đời sống tâm hồn phóng khoáng, hồn nhiên, yêu đời, yêu chính nghĩa, tự tin của tuổi trẻ. “Đang tuổi chơi, trong ngày Tết đến, dù chẳng có quần áo mới như nhiều trai làng khác, A phủ chỉ có độc một chiếc vòng trên cổ. A Phủ cũng cứ cùng trai làng đem sáo, khèn con quay và quả pao đi tìm người yêu ở các làng trong rừng”.
A Phủ là nạn nhân của cường quyền và nạn nhân của chính sách cho vay nặng lãi của bọn chủ nô phong kiến miền núi.
Đau khổ hơn, A Phủ là đứa con của núi rừng tự do mà vẫn không thoát khỏi kiếp sống nô lệ. Sự việc xảy ra vào đêm hội mùa xuân. Thấy thái độ hống hách của A Sử , A Phủ đã “ném con quay bằng gỗ lăng vào mặt A Sử” rồi “xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp”. Hành động dữ dội đó của A Phủ có nguyên cớ sâu xa từ mối hận thù giai cấp, anh rất ghét thói cường quyền bạo ngược của bọn người giàu có.
Vì tội đánh con quan, A Phủ bị nhà thống lý bắt về xử kiện. Tại nhà thống lý, A Phủ bị tay chân nhà Pá Tra đánh đập rất dã man, tàn bạo. A Phủ đã chứng tỏ mình là con người bất khuất, cứng rắn gan dạ. A Phủ bị đám trai làng xộc đến đánh “môi và mắt dập chảy máu… hai đầu gối sưng lên như mặt hổ phù”. A phủ không hề khóc lóc van xin, trái lại “A Phủ quỳ, chịu đòn, chỉ im như tượng đá”.
Cuối cùng trong cảnh xử kiện A Phủ đã bị Pá Tra buộc nộp vạ một trăm bạc trắng. Vì không có tiền để nộp vạ nên A Phủ phải vay nợ một trăm bạc trắng. Chính sách cho vay nặng lãi ấy đã biến chàng trai trẻ yêu tự do thành nô lệ với bản án chung thân suốt đời đúng như lời tên Pá Tra đã nói “đời mày, đời con mày, đời cháu máy tao cũng bắt thế, bao giờ trả hết nợ mới thôi”. Đó là kiếp sống bị khinh rẻ, bị ngược đãi và phải gánh vác những công việc nặng nhọc, nguy hiểm nhất như “săn bò tót, bẫy hổ, chăn ngựa quanh năm một thân một mình rong ruổi ngoài gò bãi, nương rừng”. Tính mạng của A Phủ sống hay chết cũng được quyết định bởi bàn tay tàn bạo của Thống lý Pá Tra.
A Phủ yêu tự do có lòng ham sống và khát vọng tự do:
Chỉ vì để hổ bắt mất một con bò, A Phủ đã rơi vào thảm họa mới. Thống lí quát thẳng vào mặt A Phủ “Quân ăn cướp làm mất bò tao…” . Rồi A Phủ bị trói đứng vào cột bằng dây mây cuốn từ chân lên vai. Nếu không bắt được hổ đem về thì cho A Phủ “đứng chết ở đấy”. Tuy vậy, với khát vọng sống mãnh liệt, bản chất gan góc, bất khuất sẵn có, A Phủ không cam chịu hết mà tìm mọi cách tự giải thoát: “Đêm đến, A phủ cúi xuống, nhay đứt hai vòng dây, nhích dần dây trói một bên tay”. Nhưng cha con thống lý lại về và tròng thêm vào cổ A Phủ một cái dây thòng lọng.
Sau bao ngày bị A Phủ “trói đứng ở trong góc nhà”, “chỉ đứng nhắm mắt” và thần chết đã in dấu trên hai hõm má xám lại vì tuyệt vọng và khổ đau của A Phủ. A Phủ đã nằm bên bờ vực của cái chết “Cơ chừng chỉ đêm mai là người kia chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”. Còn nỗi đau nào lớn hơn khi con người ta ý thức được rằng mình sẽ chết, sắp chết, chứng kiến cái chết đang lan khắp cơ thể mà đành bất lực tuyệt vọng. A Phủ đã khóc “một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Nhưng dòng nước mắt ấy đã làm động lòng người thiếu phụ. Mị đã từ vô cảm đã đồng cảm với nỗi đau của A Phủ để rồi sau cuộc đấu tranh nội tâm dữ dội, Mị đã cắt đứt dây trói cứu sống A Phủ.
Và với sự trợ giúp của Mị, A Phủ đã được tự do. Hai người trốn khỏi Hồng Ngài, tới khu du kích ở Phiềng Sa, gặp cán bộ A Châu. A Phủ và Mị lần lượt trở thành chiến sĩ du kích cùng bộ đội giải phóng quê hương.
Nghệ thuật xây dựng nhân vật: nhân vật A Phủ chủ yếu được khắc họa qua hành động, tính cách. Trần thuật hấp dẫn. Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị đậm tố chất núi rừng Tây Bắc. Dựng cảnh tài tình… Đó là những thành công của Tô Hoài trong cách xây dựng nhân vật A Phủ.
Có thể nói qua hai nhân vật Tràng và A Phủ, cả hai nhà văn Kim Lân và Tô Hoài đã phát hiện và trân trọng những vẻ đẹp và phẩm chất cao quý của người lao động. Đồng thời qua số phận nhân vật, hai nhà văn đã bộc lộ niềm cảm thông chân thành, sâu sắc và mở lối đi cho nhân vật. Với những giá trị ấy, nửa thế kỷ trôi qua, tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” và “Vợ nhặt” vẫn là tác phẩm có sức sống và có giá trị lâu bền nhất. Đó cũng chính là giá trị nhân đạo sâu sắc của hai tác phẩm. Vì những lẽ trên, Kim Lân và Tô Hoài rất xứng danh với nhà văn của những con người lao động chân chính.

Sunday, June 26, 2016

So sánh hai tác phẩm

I. CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀTÀI  
    1. So sánh là một thao tác tư duy rất cơbản. Trong cuộc sống, khi ta tư duy, ta đã dùng đến thao tác này rất thườngxuyên như một phần tất yếu. Văn học cũng là một lĩnh vực của tư duy, của nhậnthức, mang tính đặc thù, cho nên việc sử dụng thao tác so sánh trong sáng tácvà nghiên cứu văn học là một điều hết sức tự nhiên. Từ khi có văn học, nhất làvăn học viết đến nay, các nhà nghiên cứu đã có ý thức so sánh khi tìm hiểu vănchương, đặc biệt là khi có những hiện tượng song hành trong văn học. Có thểnhắc đến những hiện tượng song hành tiêu biểu trong văn học Việt Nam: NguyễnTrãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du và Nguyễn Đình Chiểu, Cung Oán Ngâm Chinh Phụ Ngâm,… So sánh các hiện tượng văn chương trở thành mộtphương pháp nghiên cứu văn chương. Ở đâytôi không nhắc tới so sánh văn học như một bộ môn khoa học mà được hiểu như mộtkiểu bài nghị luận văn học, một cách thức trình bày khi viết bài nghị luận.
            2.Khái niệm so sánh văn học cần phải được hiểu theo ba lớp nghĩa khác nhau. Thứnhất, so sánh văn học là “một biện pháp tu từ để tạo hình ảnh cho câu văn” .Thứ hai, nó được xem như một thao tác lập luận cạnh các thao tác lập luận như:phân tích, bác bỏ, bình luận đã được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn 11. Thứ ba,nó được xem như “một phương pháp, một cách thức trình bày khi viết bài nghịluận”, tức là như một kiểu bài nghị luận bên cạnh các kiểu bài nghị luận về mộtđoạn trích, tác phẩm thơ; nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm văn xuôi… ởsách giáo khoa Ngữ văn 12. Ở đề tài này chúng ta nghiên cứu vấn đề ở góc nhìnthứ ba.
              3. So sánh là phương pháp nhận thức trong đó đặt sự vật này bên cạnh một hay nhiều sự vậtkhác để đối chiếu, xem xét nhằm hiểu sự vật một cách toàn diện,kỹ lưỡng, rõ nét và sâu sắc hơn. Tuy nhiên, so sánh văn học như một kiểubài nghị luận văn học lại chưa được cụ thể bằng một bài học độc lập, chưa xuấthiện trong chương trình sách giáo khoa. Vì vậy, từ việc xác lập nội hàm kháiniệm kiểu bài, mục đích, yêu cầu, đến cách thức làm bài cho kiểu bài này thựcsự rất cần thiết song lại gặp không ít khó khăn.
            4.Kiểu bài viết so sánh văn học yêu cầu thực hiện cách thức so sánh trên nhiềubình diện: đề tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái tôi trữ tình, chi tiếtnghệ thuật, nghệ thuật trần thuật… Quá trình so sánh có thể chỉ diễn ra ở cáctác phẩm của cùng một tác giả, nhưng cũng có thể diễn ra ở những tác phẩm củacác tác giả cùng hoặc không cùng một thời đại, giữa các tác phẩm của những tràolưu, trường phái khác nhau của một nền văn học.
            5. Mục đích cuối cùng của kiểu bài này là yêu cầu học sinh chỉ ra đượcchỗ giống và khác nhau giữa hai tác phẩm, hai tác giả, từ đó thấy được nhữngmặt kế thừa, những điểm cách tân của từng tác giả, từng tác phẩm; thấy được vẻđẹp riêng của từng tác phẩm; sự đa dạng muôn màu của phong cách nhà văn. Khôngdừng lại ở đó, kiểu bài này còn góp phần hình thành kĩ năng lí giải nguyên nhâncủa sự khác nhau giữa các hiện tượng văn học – một năng lực rất cần thiết gópphần tránh đi khuynh hướng “bình tán” khuôn sáo trong các bài văn của học sinhhiện nay. Lẽ hiển nhiên, đối với đối tượng học sinh trung học phổ thông, cácyêu cầu về năng lực lí giải cần phải hợp lí, vừa sức. Nghĩa là các tiêu chí sosánh cần có mức độ khó vừa phải, khả năng lí giải sự giống và khác nhau cũngcần phải hợp lí với năng lực của các em.
II. THỰC TRẠNG CỦA DẠNG ĐỀ SO SÁNH VĂN HỌC HIỆN NAY
                       1. Như phần đặt vấn đề chúng tôi cógiới thiệu, dạng đề so sánh văn học đã xuất hiện thường niên trong các kì thi đạihọc, cao đẳng, các kì thi học sinh giỏi. Thậm trí trong các nhà trường phổthông trung học dạng đề này cũng thường xuyên được các thầy cô sử dụng cho cácbài kiểm tra định kì của các trường THPT. Minh chứng cho điều này tôi giớithiệu vắn tắt một số câu hỏi thuộc phần 5 điểm trong SGK Ngữ văn 11, 12, trong cácđề thi học sinh giỏi tỉnh Hưng Yên và một số câu hỏi trong đề thi đại học, caođẳng từ  năm 2009 đến nay  của Bộ giáo dục đào tạo:
- Đề thi học sinh giỏi môn Văn  tỉnh Hưng Yên: (Câu 2- 6 điểm)
+ Nămhọc  2009-2010: Cảm nhận của anh/chị vềhai đoạn văn sau:
Còn xa lắm mới đến cái thác dưới ........ nónằm tùy theo sở thích tự động của đá to đá bé...”(Trích Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân)
Rời khỏikinh thành,.....ấy là tấm lòng người dân Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình vớiquê hương xứ sở....” (Trích Ai đã đặttên cho dòng sông ?– Hoàng Phủ Ngọc Tường)
+ Nămhọc 2010-2011: Cảm nhận của anh/chị vềhai đoạn thơ:                    
“ Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
....Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi”
 (TríchTiếng hát con tàu- Chế Lan Viên)
Có biết bao người con gái, con trai
...Để đất nước này là Đất Nước nhân dân”
(tríchĐất Nước của Nguyễn Khoa Điềm)
+ Nămhọc 2011-2012: Đề ra cảm nhận về hai đoạn văn trong bài Vợ nhặt của Kim Lân vàVợchồng APhủ của Tô Hoài
 + Năm học 2012-2013: Cảm nhận của anh/chị vềhai đoạn thơ sau:
“Những đường Việt Bắc của ta
.....Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”(Trích Việt Bắc – Tố Hữu)
Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội
.....Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”
+ Nămhọc 2013-2014: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ trong bài Tràng giang (Huy Cận) và bài Đây thôn Vĩ Dạ  Hàn Mặc Tử)
- Đề thi đại học, cao đẳng của Bộ giáo dục:
+Đề thi tuyển sinh đại học năm 2009, khối D (câu 3a) như sau:
Cảmnhận của anh/chị về  vẻ đẹp khuất lấp củanhân vật người vợ nhặt (Vợ nhặt - KimLân) và nhân vật người đàn bà hàng chài (Chiếcthuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu).
+  Đề thi tuyển sinh đại học khối C năm 2009: Cảmnhận của anh/chị về hai đoạn văn sau:
         “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình,..... lừ lừ cái màuđỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”
                  (Người lái đò Sông Đà  Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12 Nâng cao)         
          “Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đitrong dư vang của Trường Sơn, ..... .....“sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” nhưngười Huế thường miêu tả”
(Ai đã đặt tên cho dòng sông Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12 Nâng cao)
+ Đề thi Tuyển sinh đại học khối D(câu 3b) năm 2010: Cảm nhận của anh/chịvề chi tiết “bát cháo hành” mà nhânvật thị Nở mang cho Chí Phèo (Chí Phèo – Nam Cao) và chi tiết “ấm nước đầy và nước hãy còn ấm” mà nhânvật Từ dành sẵn cho Hộ (Đời Thừa – Nam Cao).
+  Đề thi Tuyển sinh đại học khối D năm 2012:  Truyệnngắn Chí Phèo của Nam Cao kết thúc bằng hình ảnh:
         Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa,và vắng người lại qua…
                  (Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.155) Truyệnngắn Vợ nhặtcủa Kim Lân kết thúc bằng hình ảnh:
         Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…
                            (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.32)
Cảmnhận của anh/chị về ý nghĩa của những kết thúc trên.
            2. Các đề thi trong khoảng 5 nămtrở lại đây xuất hiện với mật độ dày như vậy, chúng tôi chưa tính đến thực tếtrong các trường phổ thông nhiều bài viết thường xuyên và định kì giáo viêncũng ra dạng đề này. Đặc biệt trong sách giáo khoa của lớp 11 và lớp 12 cũngxuất hiện các đề so sánh yêu cầu giáo viên và học sinh tìm hiểu, điển hình như:
Bài viếtsố 2 Nghị luận văn học lớp 11, SGK giới thiệu đề thuộc so sánh văn học  Hình ảnh người phụ nữ Việt nam thời xưa quacác bài Bánh trôi nước, Tự tình(II) của Hồ Xuân Hương và Thương Vợ của Trần Tế Xương.
Bài Ôn tập phần văn học lớp 12 học kì Iđưa ra  hệ thống câu hỏi trong đó có 3câu hỏi với kiểu đề so sánh để thầy cô và các em tìm hướng giải quyết.
Câu 8:Phân tích vẻ đẹp của hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, so sánh với hình tượng người lính trongbài thơ Đồng chí của Chính Hữu  
Câu 9:Những khám phá riêng của mỗi nhà thơ về đất nước quê hương qua bài thơ Đất nước (Nguyễn Đình Thi) và đoạn tríchĐất Nước trong trường ca Mặt đường khát vọng(Nguyễn Khoa Điềm)
Câu12: So sánh Chữ người tử tù (Ngữ văn11, tập một) với Người lái đò Sông Đà,nhận xét những điểm thống nhất và khác biệt của phong cách nghệ thuật NguyễnTuân trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945).
Bàiviết số 6 trong SGK Ngữ văn 12 cũng có đề so sánh về hai bài thơ của Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm                                                            

                3. Thực trạng đề thi có dạng so sánh xuất hiện phong phú như vậy nhưng trong chương trình sách giáo khoa mônNgữ văn của trung học phổ thông lại không có một kiểu bài dạy riêng để hướngdẫn cho thầy cô giáo cũng như các em học sinh nắm được phương pháp làm dạng đềnay một cách hiệu quả nhất. Chính vì vậy mà như đã trình bày ở phần lí do chọnđề tài nhiều em học sinh tỏ ra rất lúng túng khi đứng trước đề bài so sánh vănhọc, còn không ít thầy cô thì băn khoăn về phương pháp làm bài. Đứng trước thựctrạng đó, bằng kinh nghiệm của bản thân qua những năm dạy đội tuyển học sinhgiỏi, dạy chuyên đề đại học cũng như trao đổi với đồng nghiệp, tôi đề xuất cáchlàm dạng đề so sánh này.
III. ĐỀ XUẤT CÁCH LÀM DẠNG ĐỀ SOSÁNH VĂN HỌC
1.Xác định các loại đề so sánh văn học thường gặp
            Thực tế cho thấy dạng bài so sánhvăn học có rất nhiều loại nhỏ. Bằng sựtrải nghiệm của bản thân và dựa vào tổng kết các đề thi của những năm gầnđây,  tôi thống kê và khái quát lại thànhnhững cấp bậc đề so sánh văn học cơ bản và đưa ra một vài ví dụ mang tínhchất minh họa cho mỗi loại nhỏ:
-So sánh hai chi tiết trong hai tác phẩm văn học:
Ví dụ 1: Đề khối D 2010: So sánh chitiết ấm nước đầy và còn ấm mà Từ dành chăm sóc Hộ và chi tiếtbát cháo hành của Thị Nở dành cho Chí Phèo
Ví dụ2: Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “tiếngchim hót ngoài kia vui vẻ quá!” mà nhân vật Chí Phèo cảm nhận được sau đêmgặp thị Nở (Chí Phèo - Nam Cao, Ngữvăn 11) và chi tiết “Mị nghe tiếng sáovọng lại, thiết tha bổi hổi” mà nhân vật Mị nghe được trong đêm tình mùaxuân (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài, Ngữvăn 12)
-So sánh hai đoạn thơ
Ví dụ1: Đề khối C 2008 (diễn tả nỗi nhớ) trong hai bài: Tây Tiến của Quang Dũng vàTiếnghát con tàu của Chế Lan Viên
Ví dụ2: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:
                          Tôi muốn tắt nắng đi
                         Cho màu đừng nhạt mất;
                          Tôi muốn buộc gió lại
                          Cho hương đừng bayđi.
                                        (Vội vàng– Xuân Diệu, Ngữ văn 11,                    
                                         Tập 2, NXB Giáo dục 2011)                              
                          Tôi buộc lòng tôi với mọi người
                          Để tình trang trảivới trăm nơi
                          Để hồn tôi với baohồn khổ
                          Gần gũi nhau thêmmạnh khối đời.
                                        (Từ ấy– Tố Hữu, Ngữ văn 11,                   
                                          Tập2, NXB Giáo dục 2011)
-  Sosánh hai đoạn văn                                                                    
 Ví dụ 1: Đề khối C 2010 (khắc họa vẻ đẹphai dòng sông) trong hai bài kí: Ngườilái đò sông Đà của Nguyễn Tuân và Aiđã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Ví dụ2: Cảm nhận về hai đoạn văn sau: “Ngàytết, Mị cũng uống rượu. Mị nén lấy hũ rượu cứ uống ừng ựng từng bát. Rồi say,Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì đangsống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng...” (Vợ chồng APhủ - Tô Hoài)  
 “ Phảiuống thêm chai nữa. Và hắn uống. Nhưng tức quá, càng uống lại càng tỉnh ra.Tỉnh ra chao ôi buồn! Hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoang thoảng thấy hơicháo hành. Hắn ôm mặt khóc rưng rức...” ( Chí Phèo –Nam Cao)
- So sánh hai nhân vật
Ví dụ1: Đề thi đại hoc –khối C 2009 Vẻ đẹp khuất lấp của: người vợ nhặttrong Vợ nhặt của Kim Lân vàngười đàn bà hàng chài trong Chiếcthuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.
Ví dụ2: So sánh nhân vật Đan Thiềm trong trích đoạn Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài của Nguyễn Huy Tưởng và viên quản ngụctrong Chữ Người tử tù của NguyễnTuân.
Ví dụ3: Bi kịch của Vũ Như Tô (Vũ Như Tô –Nguyễn Huy Tưởng) và Hộ (Đời thừa –Nam Cao)
- So sánh cách kết thúc hai tác phẩm:                                        
Ví dụ1:  Đề thi đại học 2012: So sánh kết thúctác phẩm truyện ngắn Chí Phèo của NamCao và kết thúc tác phẩm Vợ nhặt củaKim Lân
Ví dụ2: So sánh cách kết thúc hai tác phẩm Haiđứa trẻ của Thạch Lam và Chí Phèocủa Nam Cao
-So sánh phong cách tác giả:                                       
Ví dụ:  So sánh Chữngười tử tù (Ngữ văn 11, tập một) với Ngườilái đò Sông Đà, nhận xét những điểm thống nhất và khác biệt của phong cáchnghệ thuật Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
-So sánh, đánh giá hai lời nhận định về một tác phẩm  
Đề thi đại học khối C năm 2013 cũngcó thể xem là một dạng của so sánh:  Vềhình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng có ý kiến cho rằng:người lính ở đây có dáng dấp của tráng sĩthuở trước; ý kiến khác thì nhấn mạnh: hìnhtượng người lính mang đậm vẻ đẹp của người lính thời kì kháng chiến chống Pháp.Từcảm nhận của mình về hình tượng này, anh chị hãy bình luận những ý kiến trên.
 Đề thi đại học 2013 yêu cầu người viết hiểuđúng, hiểu sâu nhưng quan trọng là tự bày tỏ hiểu biết tùy theo năng lực nhậnthức, không lệ thuộc tài liệu hay bài giảng của thầy cô. Đáp án chấp nhận cảquan điểm khác hướng dẫn chấm nhằm khuyến khích thí sinh mạnh dạn viết về vấnđề với cảm nhận từ nhiều điểm nhìn khác nhau, trình độ khác nhau. Vấn đề quantrọng quyết định đánh giá chất lượng bài thi văn lại chính là kỹ năng phântích, so sánh, bình luận làm rõ vấn đề của học sinh.
2.  Các cách làm bài  dạng đề so sánh văn học
          - Đứng trước một đề văn thường có rất nhiều cách triển khai, giải quyếtvấn đề, song đối với kiểu đề so sánh văn học dù là ở dạng so sánh hai chi tiết, hai đoạn thơ, hai đoạnh văn, hay hai nhân vật ....  phương pháp làm  bài văn dạng này thông thường có hai cách:
         Nối tiếp : Lần lượt phân tích hai vănbản rồi chỉ ra điểm giống và khác nhau
        Songsong : Tìm ra các luận điểm giống và khác nhau  rồi  lầnlượt phân tích từng luận điểm kết hợpvới việc lấy song song dẫn chứng của cả hai văn bản minh họa.                                          
  * Cách 1: Phân tích theo kiểu nối tiếp. Đây là cách làm bàiphổ biến của học sinh khi tiếp cận với dạng đề này, cũng là cách mà Bộ giáo dụcvà đào tạo  định hướng trong đáp án đềthi đại học - cao đẳng. Bước một lần lượt phân tích từng đối tượng sosánh cả về phương diện nội dung và nghệ thuật, sau đó chỉ ra điểm giống vàkhác nhau. Cách này học sinh dễ dàng triển khai các luận điểm trong bàiviết. Bài viết rõ ràng, không rối kiến thức nhưng cũng có cái khó là đến phầnnhận xét điểm giống và khác nhau học sinh không thành thạo kĩ năng, nắm chắckiến thức sẽ viết lặp lại những gì đã phân tích ở trên hoặc suy diễn một cáchtùy tiện. Mô hình khái quát của kiểu bài này như sau:
Mởbài:
     -   Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)
     -   Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh
Thânbài
       - Làm rõ đối tượng so sánh thứ 1 (bước nàyvận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luậnphân tích)
       - Làm rõ đối tượng so sánh thứ 2 (bước nàyvận kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phântích)
        - So sánh:  
+ Nhậnxét nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả các bình diện nhưchủ đề, nội dung hình thức nghệ thuật...(bước này vận dụng kết hợp nhiều thaotác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích và thao tác lập luậnso sánh)
 +Lý giải sự khác biệt: Thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện: bốicảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưngthi pháp của thời kì văn học…(bước này vận nhiều thao tác lập luận nhưng chủyếu là thao tác lập luận phân tích)
Kếtbài:
           - Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
           - Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.
*Cách2: Phân tích songsong được hiểu song hành so sánh trên mọi bình diện của hai đối tượng.Cách này hay nhưng khó, đòi hỏi khả năng tư duy chặt chẽ,
lôgic,sự tinh nhạy trong phát hiện vấn đề học sinh mới tìm được luận diểm củabài viết và lựa chọn những dẫn chứng tiêu biểu phù hợp của cả hai văn bản đểchứng minh cho luận điểm đó. Ví dụ, khi so sánh hai bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi vàtrích đoạn Đất nước của NguyễnKhoa Điềm. Ứng dụng cách viết này học sinh không phân tích lần lượt từng tácphẩm như cách một mà phân tích so sánh song song trên các bình diện: Xuất xứ - cảm hứng- hình tượng - chất liệu và giọng điệu trữ tình, mô hình khái quát củakiểu bài này như sau:
 Mở bài:
     -   Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)
     -   Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh 
Thân bài:
- Điểmgiống nhau
+ Luậnđiểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
+ Luậnđiểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
+ Luậnđiểm .....
- Điểmkhác nhau
+ Luậnđiểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
+ Luậnđiểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
 + Luận điểm.....
Kếtbài
               - Kháiquát những nét giống nhau và khác nhau tiêubiểu            
              - Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.                
                * Hai cách làm bài của kiểu đềso sánh văn học là vậy, mỗi cách làm đều có mặt mạnh, mặt yếu khác nhau. Trongthực tế không phải đề nào chúng ta cũng có thể áp dụng theo đúng khuôn mẫu cáchlàm như đã trình bày ở trên. Phải tùy thuộc vào cách hỏi trong mỗi đề cụ thể màta áp dụng theo cách nào và áp dụng sao cho linh hoạt, phù hợp. Cũng có khi vậndụng đầy đủ các ý của phần thân bài,cũng có khi phải cắt bỏ một phần cho hợp với yêu cầu trọng tâm của đề, hay dụngý của người viết.
3. Hướng dẫn thực nghiệm
            Để minh họa cho các bước làm mộtđề so sánh văn học tôi đưa ra hai ví dụđể ứng dụng. Ví dụ 1 sẽ được làm theo cách làm bài số 1 – Phân tích nối tiếp; ví dụ 2 sẽ được làm theo cách làm bài số 2 –Phân tích song song. Hai ví dụ được vận dụng xuyên xuốt trong phần thực nghiệm đểchúng ta kiểm chứng lại lí thuyết về cách làm bài và tiện đối chiếu mặt mạnh,mặt yếu của từng cách làm.    
* Vídụ 1: Sự tương phản giữa ánh sáng  bóng tốitrong truyện ngắn Hai đứa trẻcủaThạch Lam và Chữ người tử tù củaNguyễn Tuân.
* Vídụ 2: Hình tượng ngườilính trong thời kì kháng chiến chống Pháp qua hai bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng và Đồng chí của Chính Hữu.
 3.1. Hướngdẫn học sinh tìm hiểu đề
              - Thông thường giáo viên hướngdẫn học sinh tìm hiểu đề  qua ba ý
                                      + Xácđịnh kiểu đề
                                       + Nội dung, ý cơ bản
                                      + Phạmvi dẫn chứng
                Nếu chỉ dừng lại ở lẽ thườngtrên thì có lẽ chưa đủ với cách tìm hiểu đề của dạng so sánh này. Bởi thực tếcho thấy nhiều em học sinh chỉ cần đọc qua đề xác định đó đúng là dạng đề sosánh văn học là bắt tay vào viết ngay, gặp gì viết lấy, cốt bài dài dài làđược. Ví dụ cứ thấy đề bàn về nhân vật nào, tác phẩm nào là mang tất cả nhữnggì hiểu biết về tác phẩm ấy đưa vào bài viết. Thực ra thì hoàn toàn không phảilà thế. Mỗi đề văn, nhất là đề văn hay phải vừa “lạ” vừa “quen”, người ra đềngoài những yêu cầu bình thường còn cài đặt trong đó một ẩn ý sâu xa mà họcsinh chịu khó tìm hiểu, suy nghĩ mới có thể đáp ứng được yêu cầu. Chính vì vậymà ngay bước khởi đầu này giáo viên cần lưu ý các em phải biết cách nhận thứcđề cho đúng và trúng – nghĩa là tìmcho đúng trọng tâm yêu cầu đề.
              - Thường đề hỏi theo hai cách:dạng hỏi có định hướng (có luận điểm sẵn trong đề như ví dụ 1) và dạng hỏikhông có định hướng (không có sẵn luận điểm trong đề mà mà học sinh phải tự đitìm như ví dụ 2) Nếu xác định không trúng trọng tâm yêu cầu đề thi bài viết sẽlạc hướng và ngược lại nếu xác định đúng trúng thì bài viết sẽ bám sát yêucầu đề và đem lại hiệu quả cao hơn.
Ví dụ 1:  Sựtương phản giữa ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam và Chữngười tử tù của Nguyễn Tuân.
                  Đây là dạng đề có địnhhướng: tìm hiểu ánh sáng  bóng tối trong hai tác phẩm, kiểu đề sosánh hai chi tiết trong tác phẩm. Tuy nhiên nếu học sinh không nghiền ngẫm đềsẽ chỉ lao vào phân tích ánh sáng  bóng tối của hai tác phẩm rồi tìm rađiểm giống và khác nhau. Nhưng đề không đơn thuần là như vậy,  các em học sinh cần hiểu yêu cầu  đề nhấn mạnh đến sự tương phản giữa ánh sáng bóng tối . Nghĩa là dụng ý củangười ra đề còn muốn nhấn mạnh đến mục đích của các nhà văn khi khi xây dựng sựtương phản giữa hai loại ánh sáng đó. Từ đó tìm ra nét tương đồng và khác biệtcủa từng tác phẩm. Nếu hiểu được đúng yêu cầu đề như vậy bài viết chắc sẽ tốthơn.
Ví dụ2: Hìnhtượng người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp qua hai bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng và Đồngchí của Chính Hữu.
              Giáo viên cần xác định cho họcsinh đây là dạng hỏi không có định hướng hay nói một cách khác là một dạng củađề mở. Với đề bài này người viết tự tìm ra luận điểm sao cho phù hợp, dù luậnđiểm xác định như nào thì nhất thiết người đọc cũng phải thấy được nét tươngđồng và khác biệt trong hai tác phẩm. Đề này có thể thấy điểm giống nhau trêncác bình diện: thời đại, hình tượng, lí tưởng...điểm khác nhau về bút pháp,nguồn gốc xuất thân...
3.2. Hướng dẫn học sinh lập dàn ýchi tiết
              -  Trước một đề văn, phân tích tìm hiểuđề cho kĩ càng đã khó, xây dựng được một dàn ý cho tương đối hoàn chỉnh và đúngđắn lại càng khó hơn. Bởi trước một vấn đề của văn chương không ít cách tiếpcận. Trước một câu hỏi văn chương ít khi có một lời đáp duy nhất, nhất là cácdạng đề mở. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là trước một đề văn ai nói gìthì nói mà ta cũng phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định. Một bài vănlàm theo hình thức tự luận thì bất kì đề thi thuộc kiểu, dạng gì cũng thường cóđủ ba phần: Đặt vấn đề (mở bài), giảiquyết vấn đề (thân bài), kết thúc vấn đề(kết bài).
            - Nội dung tiếp theo của SKKN tôi sẽgiới thiệu cách làm ba phần trong một bài viết, có dàn ý chi tiết minh họa chohai cách làm bài như đã trình bày ở trên. Còn bài viết chi tiết tôi sẽ minhchứng bằng bài viết của học sinh ở phần Phụ lục của SKKN
3.2.1.Đặt vấn đề
- Không phải khôngcó lí khi có ý kiến cho rằng: văn hay chỉcần đọc mở bài. Tất nhiên nếu chỉ đọc mở bài thì không thể đánh giá đượctoàn bộ bài văn. Nhưng mở bài có tầm quan trọng thực sự đối với bài viết. Ngườita thường nói “Vạn sự khởi đầu nan”.Khi viết văn có được một mở bài hay, tự nhiên “dòng văn” như được khơi chảy, tuôn trào. Mở bài lúng túng, trụctrặc sẽ khiến bài văn thiếu sinh khí, văn phong không liền mạch, ý tứ sẽ trởnên rời rạc.
 - Đối với dạng đề so sánh văn học, học sinhcàng lúng túng hơn khi viết mở bài vì liên qua tới hai tác giả, hai tác phẩm. Quathực tế chấm bài của học sinh làm tôi thấy  nhiều học sinh mở bài so sánh chưa đúng nguyêntắc. Các em thường mắc phải lỗi giới thiệu tuần tự hai tác giả, hai tác phẩmmột cách rời rạc khiến người chấm có cảm giác như có hai mở bài. Vì vậy dạy đềvăn dạng này giáo viên cần lưu ý cho học sinh cách mở bài:
+ Các em nên bắtđầu từ những điểm chung có liên quan đến hai tác giả, hai tác phẩm, thời đại,đề tài, các nhận định liên quan...để dẫn dắt vào vấn đề
+ Để có một mởbài hay các em cần mở bài ngắn gọn, đầy đủ (các thông tin cơ bản), độc đáo (gâyđược sự chú ý của người đọc về vấn đề mình sẽ viết) và phải tự nhiên.

* Ví dụ 1:
              -ThạchLam và Nguyễn Tuân là hai nhà văn thuộc dòng văn học lãng mạn, sinh ra trongmột thời đại có nhiều biến động…
              - Ánh sáng và bóng tối trong haitruyện ngắn được sử dụng như một nguyên tắc tạo tình huống truyện mà còn vươnđến ý nghĩa biểu tượng về sự đối lập giữa thiện và ác và tốt và xấu, giữa hiệnthực tăm tối và tương lai tươi sáng…
* Ví dụ 2:  Đặtvấn đề
                - Đề tài về người lính là đềtài quen thuộc của thơ ca kháng chiến chống Pháp
                - Cùng viết về một đề tài songvẻ đẹp của hình tượng người lính trong Đồngchí qua cảm nhận của Chính Hữu và vẻ đẹp của hình tượng người lính trong Tây Tiến qua cảm nhận của Qung Dũng lạikhác nhau.
 3.2.2 Giải quyết vấn đề
            - Giải quyết vấn đề được xem là phầnquan trọng nhất trong một bài viết vì nóchiếm số lượng điểm nhiều nhất của toàn bài. Chính vì vậy mà phần này giáo viênkhông chỉ trang bị kiến thức lí luận, kiến thức về tác giả, kiến thức sâu, rộngvề tác phẩm mà phải hướng dẫn cho các em các kĩ năng viết bài: lập dàn ý, cáchbám sát yêu cầu đề cũng như là nghệ thuật hành văn, kĩ thuật xoáy trọng tâm đểkhi thực hành các em làm được bài ở phong độ tốt nhất.
             -  Quy trìnhthực hiện lập dàn ý chi tiết phần giải quyết vấn đề  dạng bài so sánh có thể phân lập theocác bước sau. Đề bao giờ cũng đưa ra các đối tượng để so sánh: haiđoạn thơ, hai đoạn văn, hai nhân vật, hai chi tiết…
+ Trướchết, cần phân lập đối tượng thành nhiều bình diện để đối sánh.Bước này nhằm phát huy trí tuệ sắc sảo và mĩ cảm của học sinh.Trên đại thể, hai bình diện bao trùm là nội dung tư tưởng và hìnhthức nghệ thuật.
Tùy từng đối tượng được yêucầu so sánh mà có cách chia tách ra các khía cạnh nhỏ khác nhau như:ngôn từ, hình ảnh, chi tiết, kếtcấu, âm hưởng, giọng điệu đến đề tài, chủ đề, tư tưởng và cảm hứngnghệ thuật.....
+ Sau đó cần nhận xét, đối chiếu để chỉ ra điểm giống và khácnhau. Bước này đòi hỏi học sinh cần có sự quan sát tinh tường, pháthiện chính xác và diễn đạt thật nổi bật, rõ nét, tránh nói chungchung, mơ hồ.
Khi nhận xét về điểm giống và khácnhau, giáo viên cũng cần định hướng cho các em tìm trên các bình diện để sosánh như :
-> Thời đại, hoàn cảnh ra đời
-> Đề tài, chủ đề
-> Phong cách sáng tác
-> Nội dung tư tưởng
-> Đặc sắc nghệ thuật
                 ->Vị trí đóng góp của tác phẩm, tác giả.....
Nếu các em đối chiếu hai đối tượng (văn bản) được so sánh trên các bìnhdiện trên để khái quát vấn đề chắc chắn các em sẽ tìm thấy điểm giống và khácnhau. Vì người ra đề thi dạng so sánh thường dựa trên những vấn đề có liên quantới nhau để ra đề.
+Cuối cùng là đánh giá, nhận xét và lí giải nguyên nhân của sựgiống và khác nhau đó. Bước này đòi hỏi những tiêu chuẩn chắc chắnvà bản lĩnh vững vàng cùng những hiểu biết sâu sắc ngoài văn bảnđể tránh những suy diễn tùy tiện, chủ quan, thiếu sức thuyết phục.Đây là một luận điểm khó nhất trong bài viết nên không nhất thiết đề thi nàocũng yêu cầu học sinh phải làm được, mà chỉ là khuyến khích học sinh tìm ra đểthưởng điểm. Vì vậy giáo viên cũng không nên quá nặng nề khi đạt ra yêu cầuthực hiện ở học sinh. Thực tế cho thấy đa phần đáp án đề thi đại học, cao đẳng,đề thi học sinh giỏi những năm qua cũng không bắt buộc phải có ý này.
* Vídụ 1:
 - Phân tích đối tượng so sánh 1: Sự tương phảngiữa ánh sáng  bóng tối trong truyện ngắn Haiđứa trẻ
+ Bóng tối: Dày đặc, bao trùm cả phố huyện vàđược lặp đi, lặp lại nhiều lần: Một đêmmùa hạ êm như nhung; đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối; tốihết cả con đường thăm thảm ra sông, con đường qua chợ về nhà; các ngõ vào lànglại càng sẫm đen hơn nữa; đêm trong phố tĩnh mịch và đầy bóng tối.... biểu trưng cho cuộc sống tăm tối, tù đọng,quẩn quanh nơi phố huyện... (đó cũng chính là hình ảnh của xã hội Việt Namnhững năm 1930 - 1945).
+ Ánh sáng: Ánh sángtương phản với bóng tối nhằm tô đậm thêm bóng tối.
 Ánh sáng nơi phốhuyện: nhỏ nhoi, yếu ớt, thưa thớt chỉ là những quầng sáng leo lét, những hộtsáng, những vệt sáng, những khe sáng,... tượng trưng cho số phận leolét, mòn mỏi của những con người nơi đây...
 Ánh sáng Hà Nộitrong hoài niệm của nhân vật Liên: Hà Nộirực sáng....vừa là quá khứ, vừa là ước mơ về tương lai của chị em Liên
 Ánh sáng từ đoàntàu vụt qua nhanh: các toa đèn sángtrưng; các cửa kính sáng; đồng và kền lấp lánh.... ánh sáng của đoàn tàukhác hẳn với ánh sáng nhỏ nhoi, yếu ớt của phố huyện, hướng con người tới tương lai tươi sáng...
-> Kết quả của sựtương phản giữa ánh sáng và bóng tối: Biểu tượng cho những kiếp người sống leo lét vô danh trong một xã hội tùđọng tăm tối nhưng vẫn không nguôi hướng về một tương lai tươi sáng hơn
- Phân tích đối tượng so sánh 2: Sự tương phản giữa ánh sáng  bóng tối trong truyện ngắn Chữngười tử tù
 - Bóng tối: “mặt đất tối”, “ một buồng tối chật hẹp, ẩmướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”…. hiện thâncho một không gian nhà tù tăm tối, một cuộc sống tù đọng, tối tăm đầy cái ác,cái xấu nơi nhà ngục thực dân, phong kiến. Đồng thời bóng tối cũng tượng trưngcho cái ác trong cuộc sống cũng như trong bản chất con người.
- Ánh sáng: “một ngôi sao Hôm nhấp nháy”, “một ngôi sao chính vị từ biệt vũ trụ”, “vuông lụatrắng”, “ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu”…là ánh sáng của chân lí,của tâm hồn con người, của cái đẹp tài hoa, của một nhân cách thanh cao…
-> Kếtquả của sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối là sự chiến thắng của thiênlương con người trước cái xấu cái ác, trước cái cao cả với cái thấp hèn…
- Nhận xét điểm tương đồng và khác biệt
+Điểm tương đồng
+ Cả hai tác giả đều sử dụng ánh sáng và bóng tối - một thủpháp nghệ thuật tương phản, đối lập mà văn học lãng mạn hay sử dụng nhằm tạotình huống truyện. Đây là các chi tiết nhỏ nhưng góp phần chuyển tải nội dungtư tưởng, chủ đề tác phẩm
+Ánh sáng và bóngtối trong hai tác phẩm tác phẩm vừa mang ý nghĩa tả thực vừa mang ý nghĩa biểutượng cao. Bóng tối tượng trưng cho cái xấu, còn ánh sáng tượng trưng cho cáitốt.
+ Điểm khác biệt
+ Sự tương phản gữa ánh sáng và bóng tối được xây dựng trênsự đối lập gay gắt, có sự chuyển biến bất ngờ, đột ngột. Thủ pháp nghệ thuậtnày dẫn dắt tình huống truyện đi đến kết thúc là sự chiến thắng của ánh sángđối với bóng tối, của chân lí, cái đẹp, cái thiên lương với cái xấu cái ác. Quađó nhà văn thể hiện rõ thái độ trân trọng cái Đẹp
+Sự tươngphản giữa ánh sáng và bóng tối không có sự chuyển biến bất ngờ. Ánh sáng của phố huyện nhỏ bé, ánh sángtừ đoàn tàu qua nhanh nên ánh sáng chỉ càng làm cho bóng tối trở nên dày đăchơn, tô đậm thêm cái ngột ngạt, tăm tối của cuộc sống nơi đây. Qua đó nhà vănbày tỏ lòng cảm thông đối với những con người nhỏ bé, đặc biệt là số phận trẻthơ trong xã hội cũ- những con người sống trong tăm tối nhưng không nguôi hướngvề ngày mai tươi sáng.
+Lígiải sự khác biệt
Cả hai nhà văn đều xuất hiện trong giaiđoạn văn học 1930-1945, trong một xã hội đầy biến động tuy nhiên phong cáchsáng tác khác nhau
            Nguyên Tuân: Đại biểu của dòng vănhọc lãng mạn, một nhà văn xuốt đời đi tìm cái đẹp. Cảm hứng thẩm mĩ của ôngthường hướng tới cái đẹp lớn lao, cái cao cả, những nhân cách lớn.... vì thế sựtương phản giữa ánh sáng  bóng đối lập bất ngờ, cuối cùng ánh sáng,cái Đẹp phải chiến thắng.
Thạch Lam: Là thành viên của nhóm Tự lựcvăn đoàn nhưng sáng tác của ông không theo hướng lãng mạn mà tác phẩm có sự hòatrộn cả lãng mạn và hiện thực. Đặc biệt ThạchLam hay quan tâm đến những cái nhỏ bé, giản dị, đời thường, thế giới của trẻthơ.... nên ánh sáng  bóng tối không có sự chuyển biến bất ngờ,ánh sáng không hoàn toàn thắng thế.
* Ví dụ 2:
-Giống nhau:
 + Luận điểm 1: Hai tác phẩm cùng ra đời năm 1948, lànhững hình ảnh người lính đang sống, chiến đấu vì lí tưởng cao đẹp – bảo vệ tổquốc
+Luận điểm 2: Họ đều lànhững anh lính bộ đội cụ Hồ sống chiến đấu trong buổi đầu của cuộc kháng chiếnchống Pháp  trải qua bao gian nan thửthách, khắc nghiệt nhưng sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn:
Với người lính Tây Tiến : Họ vượt lênthiên nhiên hiểm trở, dữ dội (Dốc lênkhúc khuỷu, dốc thăm thẳm; Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người) cuộc sốngthiếu thốn, bệnh tật ( Tây Tiến đoàn binhkhông mọc tóc...)
Với người lính trong Đồng chí là tinh thần chịu đựng gian khổ (áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá, chân không dày, đêm rét chungchăn,...) chịu chung những cơn sốt rét (anhvới tôi biết từng cơn ớn lạnh; Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi...)
+Luận điểm 3: Cả haingười lính đã không bị gian khổ đẩy lùi mà họ lớn lên với tầm vóc lớn lao, đầysức mạnh,  một tinh thần lạc quan: Trong Tây Tiến trước thiên nhiên khắc nghiệthọ không hề chìm đi mà nổi lên hiên ngang, thách thức (Heo hút cồn mây súng ngửi trời...) Trong Đồng chí cũng là vẻ đẹp hiên ngang trong đêm canh gác ( Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới; Đầu súngtrăng treo)
-Khác nhau:
+Luậnđiểm 1: Bút pháp   
            Hình tượng người lính “Tây Tiến”được vẽ bằng bút pháp lãng mạn
            Hình tượng người lính trong bài Đồngchí được thể hiện bằng bút pháp tả thực
+Luận điểm 2: Hoàn cảnh xuất thân 
              Người lính Tây Tiến ra đi từ những phố phường, mái trường, công sở, là nhữngthanh niên tri thức hà thành nên họ mang theo vào cuộc chiến đấu giấc mơ củamột tâm hồn lãng mạn  (Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm)
              Người lính trong Đồng chí xuất thân từ những mái tranhnghèo, từ những vùng quê, đất mặn đồng chua, đất cày lên sỏi đá (Quê hương anh nước mặn đồng chua; Làng tôi nghèođất cày lên sỏi đá) nên họ mang vào cuộc chiến đấu cái dáng vẻ lam lũ củanhững miền quê.
+Luận điểm 3: Vẻ đẹp của tâm hồn:
              Người lính Tây Tiến mang vẻ đẹphào hùng nhưng cũng rất hào hoa (Mắttrừng gửi mộng qua biên giới./Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm) Tâm hồn baybổng trước vẻ đẹp của thiên nhiên (Heohút cồn mây súng ngửi trời). Một tâm hồn nghệ sĩ trong sinh hoạt tinh thần(Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa; Kìa emxiêm áo tự bao giờ; Khèn lên man điệu nàng e ấp; Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ)
+ Vẻ đẹp tâm hồn của người lính trong Đồng chí lại được nhấn mạnh đến tìnhđồng chí đồng đội giữa những người lính . Cơ sở làm nên tình cảm của họ là cóchung một hoàn cảnh nghèo khổ nên họ dễ đồng cảm, có chung một chí hướng (Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ),chung tấm lòng yêu quê hương đất nước... Chính tình đồng đội, đồng chí đó đãtạo nên sức mạnh chiến đấu.
3.2.3Kết thúc vấn đề
              - Kết bài là khâu cuối cùng đểhoàn thành bài viết. Trải qua khâu chấm thi chúng tôi nhận thấy các em học sinhthường xem nhẹ kết bài. Với tâm lí “đầuxuôi thì đuôi khắc lọt”, thêm vào đó một lí do sắp hết giờ nên chỉ cần có “đóng lại” bằng cách tóm lại một vài ý đãtrình bày ở trên là được. Đứng trước thực trạng đó nên giáo viên cần hướng dẫncho học sinh cách kết bài, nhất là cách kết bài của dạng đề so sánh vốn mangtính đặc thù riêng.
                - Một kết bài đúng nguyên tắc,hay không chỉ ngắn gọn, khép lại nhữngvấn đề đã bàn luận ở trên mà học sinh có thể kết bài mở, kết bài phát triển, kết bài theo hướng nâng cao, mở rộng đểgợi ra nhiều suy nghĩ liên tưởng mới nơi người đọc
Vídụ 1:
-  Hai nhà văn, hai phong cách nhưng đều gặp nhautrong việc sử dụng thủ pháp đối lập giữa ánh sáng và bóng tối để thể hiện nhữngdụng ý nghệ thuật riêng.
- Đây là những chi tết nhỏ nhưng làm lêngiá trị lớn....
Ví dụ 2:
-Hai hình tượng người lính này mang những vẻ đẹp khác nhau nhưng đã hoàn chỉnhbức chân dung anh bộ đội Cụ Hồ trong buổi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.
-Hình tượng người lính đã sống lại trong lòng người đọc về một thời khổ nhụcnhưng vĩ đại của dân tộc.
            * Như chúng tôi đã trình bày, kiểubài so sánh văn học có yêu cầu so sánh khá phong phú, đa dạng khó có thể tìm ramột dàn bài khái quát thỏa mãn tất cả các dạng đề bài. Trong yêu cầu của từngđề bài cụ thể thuộc kiểu bài này, học sinh cần linh hoạt, sáng tạo, không nhấtthiết phải tuân thủ nghiêm ngặt qui trình trên. Caccs em có thể phối hợpnhiều bước cùng một lúc. Chẳng hạn, đồng thời vừa phân tích làm rõ đối tượng,vừa thực hiện nhiệm vụ so sánh trên hai bình diện nội dung và nghệ thuật, vừalí giải nguyên nhân vì sao khác nhau hoặc chỉ trong bước so sánh, học sinh cóthể kết hợp vừa so sánh vừa lí giải... .Vấn đề cốt tủy của mọi bài nghị luận làlàm thế nào để vừa đúng vừa trúngvừa hay”. Nguyên tắc trìnhbày một bài nghị luận so sánh văn học cũng không đi ra ngoài mục đích đó.


3.3.Một số đề luyện tập tham khảo       
             Phần này tôi giới thiệu một sốđề so sánh văn học và gợi ý đáp án để chúng ta cùng tham khảo khi hướng dẫn ôntập cho học sinh. Vì dung lượng có hạn của một sáng kiến kinh nghiệm nên tôikhông trình bày đầy đủ các ý cần có theo yêu cầu đề mà chủ yếu gợi ý điểm giốngvà khác nhau – luận điểm khó nhất của bài viết. Thiết nghĩ các luận điểm kháchọc sinh có thể làm tốt được.
Đề1: Cảm nhận về bài thơ ĐộcTiểu Thanh kí của Nguyễn Du và bài thơ Đànghi ta của Lor- ca (Thanh Thảo)
                                            Gợiý
*Nét tương đồng:
-Đề tài: Hai bài thơ viếtở hai thời điểm khác nhau nhưng cùng hướng về một đề tài: con người tài hoa bạcmệnh.
+Tiểu Thanh một người con gái tài sắc,làm lẽ, bị vợ cả ghen bắt ra ở một mình trên núi Cô Sơn –Trung Quốc. Buồn khổ,nàng lâm bệnh và chết trong nỗi cô đơn khi mới 18 tuổi. Tập thơ của nàng cũng bịngười vợ cả ghen tuông đốt sạch.
+Thanh Thảo một nhân cách lớn, nhà thơ cáchtân thiên tài của đất nước Tây Ban Nha, người đã hát lên bằng thơ tiếng hát tựdo nhưng đã bị bọn phát xít Phrăng-cô sát hại, thủ tiêu mất xác.
-Cảm xúc: Hai bài thơ cáctác giả cùng có chung một cảm xúc: thương cảm cho những kiếp người tài hoa màbạc mệnh, trân trọng và ngưỡng mộ tài năng của họ.
+Nguyễn Du thương cho nàng Tiểu Thanh tàisắc mà Nửa chừng xuân thoắt gãy cànhthiên hương
+Thanh Thảo cảm thương cho Lor-ca, ngườinghệ sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ đấu tranh cho tự do nhưng số phận bi tráng
*Điểmkhác biệt:  
-Vềnghệ thuật:
+ Nguyễn Du sử dụng thể thơ thất ngôn bátcú, hình ảnh thơ có tính chất ước lệ, tượng trưng, lối đối chặt chẽ.
+ Thanh Thảo sử dụng thể thơ tự do, hìnhảnh thơ chịu ảnh hưởng của bút pháp tượng trưng, siêu thực, câu thơ giàu nhạctính, miên man như một bản nhạc giao hưởng bởi cả bài thơ không một dấu chấmcâu.
-Nội dung:
+ Nguyễn Du từ thương người mà đến thươngmình, tự nhận mình là người cùng hội cùng thuyền với Tiểu Thanh và gửi lại niềmbăn khoăn đến hậu thế.
+Thanh Thảo từ tình thương, sự cảm thôngcon người có số mệnh nghiệt ngã mà ngưỡng mộ thiên tài, khẳng định sức sống bấtdiệt của tiếng đàn, của nghệ thuật.
-Lí giải sự khác biệt: Cộinguồn của sự khác biệt ấy là do đặc trưng của văn chương, do phong cách nghệthuật cũng như cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ khác nhau.
Đề2: Vẻ đẹp xứ Huế qua hai tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử) và Aiđã đặt tên cho dòng sông ? (Hoàng Phủ Ngọc Tường)
                                             Gợiý
*Néttương đồng:
- Cả hai nhà thơ đều lấy những địa danhnổi tiếng của xứ Huế (Vĩ Dạ và sông Hương) làm điểm nhấn và khởi hứng cảm xúc.
- Cùng tái hiện được vẻ đẹp của thiênnhiên, cảnh sắc con người xứ Huế rất riêng, rất thơ mộng. Có được điều đó chứngtỏ mảnh đất, con người Huế đã chiếm chỗ sâu bền nhất trong lòng các tác giả.
- Cả hai đều là những cây bút tài hoa,tinh tế, nhạy cảm trong văn chương, có tâm hồn hết sức lãng mạn, phong phú.
*Nétkhác biệt:
-Đây thôn Vĩ Dạ: Bài thơ được gợi cảm hứng từ tấm bưuthiếp mà Hoàng Cúc gửi cho Hàn Mặc Tử nên điểm nhìn cảm xúc trong một khônggian hẹp, cái nhìn từ kí ức. Cảnh vật của xứ Huế hiện lên với những nét đặctrưng rất bình dị, quen thuộc, gần gũi nhưng cũng thật lãng mạn: cảnh vườn tượcxanh mướt như ngọc, sông trăng huyền ảo, con người với vẻ đẹp đằm thắm, dịudàng...cảnh vật in đậm cảm xúc về tình đời, tình người.
- Ai đã đặt tên cho dòng sông?: HoàngPhủ Ngọc Tường chọn điểm nhìn là sông Hương, đặt trong một không gian phóngkhoáng, rộng lớn hơn. Vẻ đẹp của xứ Huế hiện lên ở rất nhiều góc độ từ quá khứcho đến hiện tại, từ lịch sử, thơ văn đến địa lí, văn hóa....Vì thế vùng đất cốđô hiện lên toàn diện hơn, hiện thực hơn bởi sông Hương chính là linh hồn của Huế,là nơi tích tụ những trầm tích văn hóa lâu đời của mảnh đất kinh thành cổ xưa.
- Lígiải sự khác biệt
+Xuất phát từ đặc điểmcủa thể loại thơ và bút kí là khác nhau. Thơnghiêng về cảm xúc, tâm trạng. Bút kíkhông chỉ đòi hỏi có cảm xúc mà ít nhiều có tính xác thực và khách quan.
+ Đối với Hàn Mặc Tử, Huế là nơi tác giảtừng gắn bó, giờ đã trở thành kỉ niệm. Còn Hoàng Phủ Ngọc Tường là người concủa xứ Huế nên chất Huế đã thấm sâu vào tâm hồn máu thịt của ông.
Đề3: Cảmnhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:
                          Tôi muốn tắt nắng đi
                          Cho màu đừng nhạtmất;
                          Tôi muốn buộc gió lại
                          Cho hương đừng bayđi.
                                        (Vội vàng– Xuân Diệu, Ngữ văn 11,                    
                                          Tập2, NXB Giáo dục 2011)                              
                          Tôi buộc lòng tôi với mọi người
                          Để tình trang trảivới trăm nơi
                          Để hồn tôi với bao hồn khổ
                          Gần gũi nhau thêmmạnh khối đời.
                                        (Từ ấy– Tố Hữu, Ngữ văn 11,                   
                                          Tập2, NXB Giáo dục 2011)                                                
                                            Gợiý
*Nét tương đồng:
- Hai bài thơ ra đời cùng thời (1938).
- Nhân vật trữ tình trong hai bài thơ đềulà hình tượng cái tôi tác giả vì thếnó thể hiện đầy đủ những nét độc đáo thế giới tinh thần của hai nhà thơ.
- Cái tôi trẻ trung giàu nhiệt huyết, tâmhồn sôi nổi, nồng nhiệt trong tình cảm cùng giọng điệu lãng mạn.
- Đều hướng đến cuộc đời, con người bằngtình yêu chân thành, mãnh liệt và gửi vào đó những lẽ sống đẹp.
*Sự khác biệt
- Khổ thơ của Tố Hữu :
+ Đối tượng hướng đến là tầng lớp quầnchúng nhân dân cần lao.
+Thái độ tha thiết gắn bó bằng một tráitim tự nguyện
+Mục đích chia sẻ, đồng cảm giữa cá nhânvới cộng đồng tạo thành một khối đời vững chắc
->Cái tôi tận hiến
-> Tố Hữu một người say mê lí tưởng,sẵn sàng dâng hiến nhiệt huyết tuổi trẻ cho lí tưởng cộng sản. Bộc lộ mình lànhà thơ cách mạng
-Khổ thơ của Xuân Diệu
+ Đối tượng hướng đến là tất cả những gìthuộc về sự sống ở trần gian, ngay trong tầm tay với.
+Thái độ khao khát giao cảm mãnh liệt.
+Mục đích: chiếm lĩnh và hưởng thụ trọnvẹn hương sắc của cuộc đời, vẻ đẹp của trần gian
-> Cái tôi tận hưởng
-> Xuân Diệu một tâm hồn nhạy cảm,giàu rung động trước vẻ đẹp của cuộc sống trần gian. Một cái tôi chân thànhmãnh liệt trong cảm xúc, một cái tôi công khai bộc lộ khát vọng cá nhân, bộc lộmình là nhà thơ lãng mạn.
Đề4: So sánh hai bài thơ Đất nướccủa Nguyễn Đình Thi và trích đoạn Đấtnước (TríchTrường ca mặt đường khátvọng Nguyễn Khoa Điềm).
             - Vềxuất xứ: Đất nước củaNguyễn Đình Thi là một chỉnh thể sáng tạo tổng hợp từ hai bài thơtrước đó và nó có dáng dấp như một trường ca thu nhỏ. Trong khi đó, Đất nướccủa Nguyễn Khoa Điềm làmột mảnh nhỏ vỡ ra từ chỉnh thể trường ca lớn
              -Về cảm hứng: Nguyễn Đình Thi gửi gắm những suy tư, tâmniệm về sức sống diệu kì của dân tộc Việt Nam anh hùng còn NguyễnKhoa Điềm nghiêng về cắt nghĩa lí giải các câu hỏi: Đất nước có tựbao giờ? Đất nước là gì? Ai đã làm lên Đất nước ? Mối quan hệ giữa conngười và đất nước?...
                - Hình tượng: Nguyễn Đình Thi khắc họa bằng hai hệ thốnghình ảnh chính của giang sơn tổ quốc là đất và trời thì Nguyễn KhoaĐiềm hướng đến đất và nước như hai yếu tố khởi thủy hợp lại.Với Nguyễn Đình Thi, nhân dân là những con người trong một cuộc hànhtrình trường chinh máu lửa vươn vai như những thiên thần còn với NguyễnKhoa Điềm là đám đông vô danh bốn nghìn thế hệ, hòa nhập vào nhau đểhóa thành đất nước trong hình tượng mang màu sắc huyền thoại.
                 -Về chất liệu: Nguyễn Đình Thi sửdụng chất liệu thi ca từ chi tiết đời sống bằng vốn sống và ấntượng chủ quan trực tiếp còn Nguyễn Khoa Điềm nhào nặn tài tình vốnvăn hóa dân gian trong ca dao, truyền thuyết, cổ tích…
                   -Vềgiọng điệu:
 Nguyễn Đình Thi như đang phát ngôn giữa quảng đại quầnchúng nên bài thơ có giọng tráng ca hào sảng dõng dạc. Với NguyễnKhoa Điềm, đó là giọng trữ tình của một chàng trai trong lời tâmtình với người yêu, thân mật mà nghiêm trang, cảm xúc đan cài suy tư,triết lí làm nên giọng triết luận tâm tình.
���